Góc nhìn thị trường Đức và cơ hội giao thương cho doanh nghiệp Việt Nam (Phần 2)

PHẦN 2: Dự đoán sản phẩm, ngành hàng xuất khẩu tiềm năng của Việt Nam sang các nước, tình hình thực hiện Hiệp định thương mại tự do FTA đã ký kết.

2.1 Đưa thương mại Việt Nam – EU lên một tầm cao mới

Với kim ngạch thương mại hơn 50 tỷ euro, Việt Nam hiện là đối tác thương mại quan trọng thứ hai của EU ở Đông Nam Á trong khi EU là đối tác thương mại lớn thứ tư của Việt Nam. Từ năm 2014 đến năm 2018, thương mại hàng hóa song phương tăng trưởng với tốc độ hàng năm là 15%. Nhằm phát huy tối đa tiềm năng của mối quan hệ kinh tế hợp tác lẫn nhau, EU và Việt Nam đã nhất trí ký kết một hiệp định thương mại tự do toàn diện (Hiệp định Thương mại Tự do Việt Nam – EU, EVFTA). Hiệp định được Nghị viện Châu Âu phê duyệt bước đầu và cũng đã nhận được sự đồng thuận của Hội đồng Liên minh châu Âu. Sau khi EVFTA được Quốc hội Việt Nam phê chuẩn, EVFTA có hiệu lực vào đầu mùa hè năm 2020.

2.1.1 Đồng bộ hóa quy trình thương mại, quyền của người lao động, tính bền vững, cạnh tranh bình đẳng

EVFTA có hiệu lực đồng nghĩa với việc tiến đến xóa bỏ hoàn toàn thuế quan hiện hành cho cả hai bên đối với các sản phẩm công nghiệp. Tùy vào lĩnh vực cụ thể, lộ trình xóa bỏ thuế diễn ra khác nhau, ví dụ ngành công nghiệp ô tô có giai đoạn chuyển tiếp lên đến 10 năm. Gần như tất cả các loại thuế đối với nông sản cũng sẽ được xóa bỏ. Những cái gọi là hàng rào phi thuế quan như đặc điểm kỹ thuật và điều kiện cấp phép sẽ được giảm bớt, với việc cả hai bên cam kết công nhận các tiêu chuẩn quốc tế chung.

Đồng thời, EVFTA đưa ra các quy định nghiêm ngặt về quyền và tính bền vững của người lao động. Thông qua EVFTA, Việt Nam cam kết tôn trọng các nguyên tắc cơ bản của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), bao gồm quyền tự do hiệp hội, xóa bỏ lao động cưỡng bức, xóa bỏ có hiệu quả lao động trẻ em, đồng thời thúc đẩy việc phê chuẩn tất cả các công ước cơ bản của ILO. EVFTA cũng bao gồm các điều khoản ràng buộc về việc thực hiện các hiệp định đa phương về môi trường như Thỏa thuận Paris về biến đổi khí hậu; các nhóm xã hội dân sự sẽ tham gia giám sát các bước thực thi cam kết của cả hai bên.

2.1.2. Kiểu mẫu toàn cầu hóa dựa trên quy tắc

Việc EVFTA có hiệu lực sẽ không chỉ mang lại sự thịnh vượng cho cả hai bên mà còn giúp củng cố hệ thống thương mại quốc tế bằng cách mở rộng những quy tắc và tiêu chuẩn chung của một nền kinh tế năng động.

EVFTA là đóng góp quan trọng của EU với mong muốn thúc đẩy kinh tế phục hồi sau tác động của đại dịch COVID-19, bảo vệ chuỗi cung ứng trước các cuộc khủng hoảng trong tương lai. Đồng thời, hiệp định cho thấy việc mở cửa nền kinh tế, tạo ra tăng trưởng và tuân thủ tiêu chuẩn xã hội, tiêu chuẩn bền vững không gây ra mâu thuẫn mà còn bổ trợ cho nhau một cách hiệu quả.

2.1.3. Mức tăng trưởng ấn tượng

Với nền kinh tế phát triển năng động cùng dân số 95 triệu người, Việt Nam là một đối tác kinh tế quan trọng của EU ở Đông Nam Á. Kinh tế Việt Nam cải thiện đáng kể từ đầu những năm 1980, tốc độ tăng trưởng cao lên tới 9,5% (1995). Ở thời điểm hiện tại, với mức 6,5%, tốc độ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam cao hơn cả Trung Quốc. Đóng góp cho sự thăng hạng này là việc giảm tỷ lệ hộ nghèo từ hơn 50% (năm 1996) xuống dưới 10% hiện nay. Với tổng thu nhập quốc dân bình quân đầu người là 2400 đô la Mỹ, Việt Nam được coi là “quốc gia có thu nhập trung bình” kể từ năm 2018.

2.2. The Hanoitimes – Hiệp định thương mại tự do giữa EU và Việt Nam có hiệu lực từ ngày 1/8, thúc đẩy hợp tác thương mại và đầu tư song phương.

Nhân kỷ niệm 30 năm thống nhất nước Đức và 45 năm thiết lập quan hệ ngoại giao Việt – Đức, Đại sứ Đức tại Việt Nam – Guido Hildner – khẳng định quan hệ kinh tế đóng vai trò then chốt trong hợp tác song phương giữa Đức và Việt Nam, và sẽ tiếp tục phát triển mạnh mẽ.

         Buổi họp báo tổ chức vào ngày 30 tháng 9. Ảnh: Đại sứ quán Đức tại Hà Nội.

Phát biểu tại buổi họp báo ngày 30/9, Đại sứ Hildner cho biết quan hệ hợp tác giữa Đức và Việt Nam luôn phát triển không ngừng trong những năm qua.

2.2.1. Quan hệ kinh tế phát triển

Trong những năm gần đây, quan hệ hợp tác kinh tế giữa Đức và Việt Nam phát triển trên nhiều lĩnh vực. Đức hiện là đối tác thương mại quan trọng số một của Việt Nam tại EU.

Năm 2019, Việt Nam thu về 10,9 tỷ USD từ hoạt động xuất khẩu sang Đức trong khi các lô hàng từ Đức xuất sang Việt Nam đạt 4,8 tỷ USD. So với cùng kỳ 2019, giá trị xuất khẩu của Việt Nam sang Đức tăng thêm 1,6% trong nửa đầu năm 2020 bất chấp tác động của đại dịch Covid-19.

Cũng trong năm 2019, Đức đã đầu tư hơn 2,1 tỷ USD vào Việt Nam, tập trung cho các dự án công nghệ cao. Con số này tăng 5,8% so với năm 2018. Tổng cộng có 380 công ty Đức đặt chi nhánh tại Việt Nam.

“Ngôi nhà Đức” tại Thành phố Hồ Chí Minh là biểu hiện thuyết phục về sự hiện diện của người Đức tại Việt Nam. Hiệp định thương mại tự do giữa EU và Việt Nam có hiệu lực từ ngày 1 tháng 8 sẽ tạo động lực thúc đẩy mối quan hệ này tiến xa hơn nữa.

2.2.2. Giáo dục và khoa học – những lĩnh vực hợp tác chủ chốt

Trường Đại học Việt – Đức là dự án tiên phong nhằm định hình tương lai và làm sâu sắc hơn mối quan hệ hợp tác về khoa học và công nghệ giữa 2 quốc gia. Ngày 23/9, nhân kỷ niệm 45 năm thiết lập quan hệ ngoại giao Việt – Đức, thỏa thuận liên Chính phủ ba bên liên quan đến phát triển và mở rộng Trường Đại học Việt – Đức được ký kết. Nó đặt ra khuôn khổ cho sự bảo đảm an toàn về mặt pháp lý, cách thức tổ chức và quản lý tài chính của trường đại học.

Năm 2020 được ghi nhớ trong mối quan hệ hợp tác song phương là năm của thảm họa Covid-19. Đại dịch này gửi đi tín hiệu khuyến khích tinh thần đoàn kết quốc tế trong bối cảnh khủng hoảng y tế toàn cầu. Covid-19 và những ảnh hưởng của nó đã làm bật lên tầm quan trọng của việc hợp tác quốc tế.

2.3. Tình hình kinh tế Đức tháng 1 năm 2021

  • Năm ngoái, sự bùng nổ của đại dịch coronavirus khiến nền kinh tế Đức rơi vào tình trạng suy thoái nghiêm trọng, không thua gì cuộc khủng hoảng kinh tế và tài chính năm 2008 và 2009. Trong năm 2020, tổng sản phẩm quốc nội của Đức giảm 5,0%. [1]
  • Sau sự phục hồi mạnh mẽ với 8,5% trong quý 3 năm 2020, Đức áp dụng lệnh đóng cửa một phần vào tháng 11 rồi siết chặt và mở rộng khiến nền kinh tế bị đình trệ trong quý cuối cùng của năm.
  • Tuy đóng cửa một phần, sản lượng công nghiệp Đức vẫn tiếp tục tăng trong tháng 11 kèm theo các đơn đặt hàng sản xuất mới. Điều này cho thấy lĩnh vực công nghiệp không bị ảnh hưởng nặng nề bởi các biện pháp như hồi mùa xuân năm ngoái.
  • Doanh thu bán lẻ (trừ mặt hàng ô tô) tiếp tục tăng trong tháng 11, nhưng diễn biến khác nhau tùy theo từng ngành. Trong khi thương mại điện tử và đặt hàng qua bưu điện ghi nhận mức tăng mạnh về doanh thu thì các cửa hàng bán lẻ tại địa điểm cố định lại chịu tác động sâu sắc từ các biện pháp đối phó với đại dịch. Mặc dù các chỉ số hàng đầu trong tháng 12 không tính đến đầy đủ về việc thắt chặt khóa cửa, nhưng chúng đã vẽ nên một bức tranh ảm đạm hơn. Số lượng đăng ký xe ô tô mới hàng tháng của các hộ gia đình tư nhân đạt mốc 135.000 xe (có sự điều chỉnh theo mùa) trong tháng 12, cao hơn nhiều so với mức trung bình hàng tháng trong năm 2018 và 2019.
  • Mặc dù giãn cách xã hội một phần, sự phát triển của thị trường lao động vẫn ổn định. Lao động có việc giảm nhẹ trong tháng 11. Tương tự như vậy, số liệu tỷ lệ thất nghiệp theo mùa tiếp tục giảm đáng kể trong tháng 12. Trong khi đó, số lượt đăng ký làm việc ngắn hạn vào tháng 11 và tháng 12 cho thấy số lượng người có nhu cầu làm việc ngắn hạn gia tăng.

2.3.1. Phục hồi kinh tế bị gián đoạn do lệnh đóng cửa

Sau mười năm tăng trưởng kinh tế liên tục, đại dịch coronavirus đã khiến chỉ số GDP giảm 5,0% vào năm 2020. Tuy nhiên, mức giảm này gần như không quá ấn tượng như nhiều chuyên gia đã dự đoán trong năm. Kết quả này có được không chỉ nhờ vào khả năng tự phục hồi của nền kinh tế Đức, mà còn nhờ các gói biện pháp toàn diện được Chính phủ Liên bang áp dụng nhằm hỗ trợ nền kinh tế và ổn định thu nhập. Quý thứ hai ghi nhận mức sụt giảm lịch sử 9,8%. Ngay lập tức, quá trình phục hồi mạnh mẽ được thiết lập sau khi các hạn chế dần được dỡ bỏ. Trong quý III, sản lượng kinh tế Đức tăng 8,5%, đạt xấp xỉ 96% mức công bố trong quý IV năm 2019 trước khi đại dịch bùng phát. Mặc dù sự phục hồi có dấu hiệu hụt hơi, nhưng số liệu sản lượng kinh tế tiếp tục tăng kỷ lục trong suốt tháng 11. Tuy nhiên, lệnh đóng cửa mới có khả năng khiến GDP trì trệ trong quý IV.

Các số liệu mới nhất cho thấy kinh tế phát triển theo hai hướng: trong khi ngành dịch vụ một lần nữa bị tác động nặng n bởi những hạn chế về giao tiếp xã hội, thì ngành công nghiệp tiếp tục phát triển mạnh mẽ. Tuy đóng cửa một phần, các đơn đặt hàng sản xuất mới và sản lượng công nghiệp vẫn tăng trong tháng 11, cũng như thương mại hàng hóa. Ngoài ra, thị trường lao động cho đến nay đã chứng tỏ khả năng phục hồi đáng kể. Nhìn chung số lượng việc làm tăng trong những tháng gần đây, trong khi tỷ lệ thất nghiệp giảm đi từng ngày. Đặc biệt, các số liệu mới nhất cho thấy sự gia tăng của công việc thời vụ.

2.3.2. Ngành công nghiệp ít bị ảnh hưởng bởi các biện pháp khóa chặn mới

Sản lượng của ngành sản xuất hàng hóa tiếp tục ghi nhận mức tăng nhẹ trong tháng 11. Nó đã tăng 0,9% so với tháng trước. Mức tăng cho tháng 10 đã được điều chỉnh nhẹ lên 3,4%. Sản lượng ngành công nghiệp và ngành xây dựng đều tăng (lần lượt là 1,2% và 1,4%) trong tháng 11, còn ngành năng lượng lại ghi nhận mức giảm đáng kể 3,9%. Trong ngành công nghiệp, đóng góp tăng trưởng nhất được tạo ra bởi lĩnh vực ô tô (+ 2,2%), CNTT và thiết bị quang học (+ 6,7%) và kỹ thuật cơ khí (+ 1,8%). Khi so sánh giữa cặp tháng 10-11 với cặp tháng 8-9, sản lượng ngành sản xuất hàng hóa đã tăng 5,0%. Trong cùng kỳ, khu vực công nghiệp và xây dựng đạt mức tăng trưởng lần lượt là 5,4% và 3,4%. Ngoài ra, ngành năng lượng cũng chứng kiến ​​sản lượng tăng 4,3%.

Các đơn hàng mới trong lĩnh vực sản xuất bắt đầu quá trình phục hồi ổn định từ tháng 5 năm 2020, tăng thêm 2,3% trong tháng 11. So sánh hai tháng cho thấy mức tăng 4,9% đã được ghi nhận. Trong khi đơn đặt hàng từ khu vực đồng euro chỉ tăng nhẹ 0,3%, đơn đặt hàng trong nước và đơn đặt hàng từ ngoài khu vực đồng tiền chung châu Âu tăng lần lượt là 5,2% và 7,5%. Tổng lượng đơn đặt hàng mới trong tháng 11 đã vượt quá mức đạt được trong quý trước khi xảy ra khủng hoảng, Q4 2019, gần 6½%.

Ngành công nghiệp sản xuất hàng hóa đang tiếp tục tự vượt ra khỏi cuộc khủng hoảng. Theo số liệu mới nhất, sản lượng công nghiệp vượt 97% so với mức đạt được trong Quý 4 năm 2019. Trong bối cảnh dịch bệnh diễn biến phức tạp và sự thắt chặt lệnh đóng cửa, triển vọng của ngành công nghiệp vẫn còn hạn chế. Tuy nhiên, hoạt động đặt hàng vẫn duy trì ở mức ổn định. Sự phát triển của ngành công nghiệp cho thấy ngành này ít bị ảnh hưởng nặng nề hơn bởi lệnh đóng cửa so với hồi mùa xuân.

2.3.3. Doanh thu bán lẻ ngày càng tăng

Theo ước tính của Văn phòng Thống kê Liên bang, doanh thu bán lẻ (không bao gồm ô tô) tăng khoảng 4% trong năm ngoái. Tuy nhiên, có sự khác biệt đáng kể giữa các ngành đặc thù. Trong tháng 11, doanh thu tăng thêm 1,1% so với tháng 10, sau khi đã tăng 2,8%. Xu hướng tích cực này được cho là do sự gia tăng mạnh mẽ về doanh thu từ các giao dịch đặt hàng trực tuyến và qua đường bưu điện, trong khi các cửa hàng bán lẻ tại địa điểm cố định, đặc biệt là các cửa hàng may mặc, phải chịu các biện pháp áp đặt để đối phó với đại dịch. Sau sự sụt giảm 0,3% vào tháng 9, thương mại bán lẻ bao gồm ô tô đã tăng 1,1% trong tháng 10, đạt mức cao (hơn 6%) so với giá trị đã ghi nhận vào quý 4 năm 2019, trước khi đại dịch coronavirus bùng phát. Đăng ký ô tô tư nhân mới tăng 14,5% trong tháng 12 (tháng 11: + 14,0%). Số lượng đăng ký ô tô mới của tư nhân (điều chỉnh theo yếu tố mùa vụ) vượt 135.000 ô tô mỗi tháng, cao hơn nhiều so với mức trung bình hàng tháng của năm 2018 và 2019. Với mức thuế VAT thấp hơn áp dụng cho đến cuối năm, thực tế là một số giao dịch mua sẽ được đưa về phía trước có thể đã đóng một vai trò ở đây.

Số liệu ifo cho kỳ vọng kinh doanh trong lĩnh vực bán lẻ giảm vào tháng 12. Trong tháng đầu năm, chỉ số niềm tin tiêu dùng GFK dự đoán sẽ tiếp tục giảm nhẹ. Hai chỉ số chưa phản ánh sự phát triển hiện tại của bệnh truyền nhiễm cũng như việc mở rộng và thắt chặt chính sách đóng cửa nghiêm ngặt mới.

Sau sự sụt giảm 0,8% trong tháng 11, giá tiêu dùng lại tăng 0,5% trong tháng 12, phản ánh xu hướng đặc trưng của mùa Giáng sinh. Tỷ lệ lạm phát, tức là sự phát triển hàng năm của mặt bằng giá, duy trì ở mức -0,3% trong tháng 12, phần lớn nguyên nhân là do việc giảm thuế suất VAT vào giữa năm. Đây là tỷ lệ lạm phát thấp nhất được ghi nhận kể từ tháng 1 năm 2015. Giá các sản phẩm năng lượng và giá hàng hóa lần lượt giảm 6,0% và 1,8%, trong khi giá dịch vụ tăng 1,1%. Tỷ lệ lạm phát cơ bản (không bao gồm năng lượng và thực phẩm) giảm 0,2 điểm phần trăm xuống + 0,3% trong tháng 12. Tính trung bình, tỷ lệ lạm phát 0,5% vào năm 2020 là mức thấp nhất được ghi nhận kể từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2009. Trong khi giá các sản phẩm năng lượng và giá hàng hóa lần lượt giảm 4,8% và 0,4%, giá dịch vụ vẫn tăng 1,3%.

2.3.4. Chỉ số môi trường kinh doanh ifo giảm (tháng 1 năm 2021)

2.4. Cơ hội kinh doanh

TIÊU ĐIỂM: THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ

Covid-19 đã củng cố sự phát triển của thương mại điện tử ở Đức. Doanh số bán hàng trực tuyến đạt 59,2 tỷ Euro vào năm 2019, + 11% so với năm 2018. Năm 2020, tốc độ tăng trưởng cao hơn mức trung bình ghi nhận trong những năm gần đây. Lượng người mua sắm trực tuyến ngày càng tăng và ngày càng chịu chi nhiều tiền hơn. Mặt hàng thời trang và điện tử chiếm 50% doanh số bán hàng trực tuyến, phân khúc đồ nội thất và đồ gia dụng phát triển mạnh mẽ. Doanh số bán hàng trực tuyến chiếm 15% tổng doanh số bán hàng của ngành vào năm 2019, tương ứng 5,5 tỷ Euro và dự kiến ​​sẽ tăng lên 25% trong 5 năm tới. Có hơn 500 định dạng và cổng thông tin bán hàng trên thị trường các nước nói tiếng Đức (Dach market), nên việc hoạch định chiến lược là vô cùng cần thiết và cần có sự đồng hành từ các chuyên gia địa phương.

Đức: Thị trường giải trí

Trong những tháng vừa qua, bất chấp bối cảnh hiện tại, thị trường giải trí (thể thao, âm nhạc hoặc trí thức) đã và đang cho thấy sự tăng trưởng mạnh mẽ. Theo IFH KÖLN và BBE Handelsberatung, doanh thu của ngành tăng 2,9% vào năm 2020, đạt khoảng 850 triệu euro, đặc biệt nhờ vào doanh số bán xe đạp / xe đạp côn. Xu hướng này có liên quan đến sự thay đổi trong lối sống của chúng ta. Ông Max-Henrik Fabian, cố vấn tại IHF Cologne, khẳng định “các sản phẩm mang lại niềm vui và sự đổi mới cho cuộc sống hàng ngày trong giai đoạn khủng hoảng có thể được hưởng lợi từ tình hình hiện tại” (boardgame, nhạc cụ hoặc phụ kiện thể thao). Nhìn chung, sự phát triển tích cực trên các thị trường riêng lẻ không nên che khuất thực tế là giao dịch chuyên doanh đang chịu áp lực lớn. Các ước tính dự đoán mức giảm là 4%. Florian Schops, cố vấn cấp cao tại BBE Handelsberatung, nói rằng các công ty sẽ phải phân biệt giữa xu hướng “trong cuộc khủng hoảng Corona” và xu hướng trước đó.

Trong thị trường này, nơi có sự cạnh tranh ngày càng gay gắt nhưng lại tạo ra nhiều cơ hội thương mại cho các công ty Pháp, điều cần thiết là phải xác định rõ chiến lược của mình và tìm kiếm sự đồng hành của các chuyên gia trong nước.

———-

Chuyên mục “Góc nhìn thị trường” do Source of Asia và Villafrance phối hợp cùng VCCI-HCM mở ra nhằm chia sẻ, cập nhật những thông tin mới nhất về các thị trường quốc tế tiềm năng cho các DN hội viên của VCCI-HCM. 

  • Sự kiện
  • Đào tạo