Tình hình đăng ký doanh nghiệp tháng 11 và 11 tháng năm 2021

I. Các yếu tố tác động đến tình hình đăng ký doanh nghiệp tháng 11 và 11 tháng năm 2021

Sau hơn một tháng thực hiện Nghị quyết 128/NQ-CP của Chính phủ về thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch Covid-19, các cấp, các ngành, các địa phương đã có những phương án để thích nghi an toàn, khoanh vùng, dập dịch bên cạnh việc duy trì, đẩy nhanh tiến độ sản xuất, kinh doanh nhằm đạt được các mục tiêu đã đề ra. Qua đó, tình hình dịch Covid-19 được kiểm soát trên phạm vi toàn quốc, đồng thời, kinh tế – xã hội dần được khôi phục và có sự khởi sắc. Nghị quyết 128/NQ-CP là một bước chuyển biến cho quá trình bình thường mới. Những quyết định nêu trong Nghị quyết được triển khai thống nhất trên phạm vi toàn quốc đã góp phần quan trọng trong việc khôi phục sản xuất và thúc đẩy thị trường để tái thiết nền kinh tế sau giai đoạn dài giãn cách trên diện rộng. Điều này cho thấy đây là chủ trương phù hợp, kịp thời, đúng hướng, mang lại hiệu quả cao, đáp ứng yêu cầu của thực tiễn.

 

Bên cạnh đó, ngày 12/11/2021, Quốc hội đã thông qua Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội năm 2022, trong đó xác định mục tiêu tổng quát là thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch Covid-19, bảo vệ tối đa sức khỏe, tính mạng của Nhân dân cùng với tập trung tháo gỡ khó khăn cho sản xuất, kinh doanh, hỗ trợ hiệu quả người dân và doanh nghiệp. Tận dụng mọi cơ hội để thúc đẩy phục hồi và phát triển kinh tế – xã hội trên cả nước, trong từng ngành, lĩnh vực, địa phương và duy trì các động lực tăng trưởng trong dài hạn. Kiên trì giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, nâng cao tính tự chủ, khả năng chống chịu, thích ứng của nền kinh tế…

Mặc dù vậy, nguy cơ bùng phát các làn sóng dịch bệnh mới vẫn rất cao, qua đó tiếp tục thách thức không nhỏ đến các chính sách phòng chống dịch và nỗ lực phục hồi nền kinh tế của nước ta.

Bên cạnh đó, ảnh hưởng của các đợt dịch Covid-19 phức tạp, kéo dài đã tác động tiêu cực đến hoạt động sản xuất, kinh doanh, khiến nhiều doanh nghiệp bị sụt giảm đáng kể về doanh thu và lợi nhuận. Do vậy, các doanh nghiệp đang tập trung nguồn lực để đẩy nhanh tiến độ sản xuất trong thời điểm cuối năm nhằm cải thiện doanh thu, đồng thời tìm kiếm đối tác, thị trường mới.

Đây là những yếu tố tác động lên tình hình đăng ký doanh nghiệp tháng 11 và 11 tháng năm 2021 cũng như sẽ ảnh hưởng đến tình hình đăng ký doanh nghiệp trong giai đoạn cuối năm nay.

II. Tình hình đăng ký doanh nghiệp tháng 11 năm 2021

1. Doanh nghiệp thành lập mới

Việc chuyển hướng chiến lược phòng, chống dịch sang “thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch COVID-19” đã có tác động tích cực tới tinh thần khởi nghiệp của người dân trong tháng 11/2021, được thể hiện qua con số 11.902 doanh nghiệp gia nhập thị trường cùng số vốn đăng ký là 149.861 tỷ đồng. Mặc dù có sự sụt giảm so với cùng kỳ năm 2020 (giảm 9,1% về số doanh nghiệp và giảm 47,4% về vốn đăng ký) nhưng số doanh nghiệp thành lập và số vốn đăng ký mới trong tháng 11 năm 2021 tiếp tục cho thấy sự phục hồi mạnh mẽ của hoạt động sản xuất kinh doanh sau hơn một tháng triển khai Nghị quyết 128/NQ-CP (tăng 44,6% về số doanh nghiệp và tăng 38% về số vốn so với tháng 10/2021). So sánh với tháng 8/2021 và tháng 9/2021 (thời điểm việc giãn cách xã hội được thực hiện nghiêm ngặt tại nhiều địa phương trên cả nước), số doanh nghiệp thành lập mới trong tháng 11/2021 tăng lần lượt 106,6% và 205,3%; số vốn đăng ký mới tăng 120,5% và 140%. Tháng 11/2021 cũng là tháng có số lượng doanh nghiệp gia nhập thị trường cao nhất kể từ tháng 4/2021, khi làn sóng dịch bệnh Covid-19 bùng phát lần thứ tư ở nước ta.

Trong tháng 11/2021, 04/06 khu vực trên cả nước có số doanh nghiệp đăng ký thành lập giảm so với cùng kỳ năm 2020, gồm: Đông Nam Bộ (4.702 doanh nghiệp, giảm 13,9%); Đồng bằng sông Cửu Long (880 doanh nghiệp, giảm 15,1%); Tây Nguyên (361 doanh nghiệp, giảm 18,9%) và Đồng bằng sông Hồng (3.526 doanh nghiệp, giảm 6,7%). Trong khi đó, 02 khu vực có số doanh nghiệp thành lập mới tăng là: Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung (1.866 doanh nghiệp, tăng 2,6%) và Trung du và miền núi phía Bắc (567 doanh nghiệp, tăng 3,5%).

Số lao động đăng ký của các doanh nghiệp thành lập mới trong tháng 11/2021 là 76.567 người, giảm 36% so với cùng kỳ năm 2020.

2. Doanh nghiệp quay trở lại hoạt động

Tháng 11/2021 có 4.958 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, cao nhất kể từ tháng 4/2021. Mặc dù giảm 6,7% so với cùng kỳ năm 2020 nhưng tăng lần lượt 28,3%, 49,5% và 15,2% so với các tháng 8, 9 và 10/2021. Trong đó, có 36/63 địa phương có số lượng doanh nghiệp tái gia nhập thị trường tăng so với tháng 10/2021 và 45/63 địa phương có sự gia tăng so với tháng 9/2021. Một số địa phương có sự phục hồi ấn tượng về số doanh nghiệp quay trở lại hoạt động trong tháng 11/2021 gồm: Thành phố Hồ Chí Minh (1.557 doanh nghiệp, tăng 34,6% so với tháng 10/2021 và tăng 77,1% so với tháng 9/2021); Bình Dương (154 doanh nghiệp, tăng 49,5% so với tháng 10/2021 và tăng 75% so với tháng 9/2021); Hải Phòng (137 doanh nghiệp, tăng 14,2% so với tháng 10/2021 và tăng 37% so với tháng 9/2021); Ninh Bình (106 doanh nghiệp, tăng 360,9% so với tháng 10/2021 và tăng 606,7% so với tháng 9/2021); Đồng Nai (80 doanh nghiệp, tăng 45,5% so với tháng 10/2021 và tăng 50,9% so với tháng 9/2021); Bắc Giang (47 doanh nghiệp, tăng 62,1% so với tháng 10/2021 và tăng 38,2% so với tháng 9/2021)…

3. Doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường

Trong tháng 11/2021, cả nước có 9.421 doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường, tăng 2,6% so với cùng kỳ năm 2020, trong đó có: 3.523 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng kinh doanh, tăng 27,1% so với cùng kỳ năm 2020; 4.642 doanh nghiệp chờ làm thủ tục giải thể, tăng 3,8% so với cùng kỳ năm 2020; 1.256 doanh nghiệp đã giải thể, chấm dứt tồn tại, giảm 35,3% so với cùng kỳ năm 2020.

III. Tình hình đăng ký doanh nghiệp 11 tháng năm 2021

1. Doanh nghiệp gia nhập và tái gia nhập thị trường

Tổng số doanh nghiệp gia nhập và tái gia nhập thị trường trong 11 tháng năm 2021 là 146.148 doanh nghiệp (giảm 11,5% so với cùng kỳ 2020), bao gồm: 105.618 doanh nghiệp thành lập mới (giảm 15,0%) và 40.530 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động (giảm 0,7%). Trung bình mỗi tháng có 13.286 doanh nghiệp gia nhập và tái gia nhập thị trường.

1.1. Doanh nghiệp thành lập mới

Số doanh nghiệp thành lập mới trong 11 tháng năm 2021 là 105.618 doanh nghiệp, giảm 15% so với cùng kỳ năm 2020. Số vốn đăng ký thành lập trong 11 tháng năm 2021 đạt 1.454.231 tỷ đồng, giảm 22,6% so với cùng kỳ năm 2020.

Tổng số vốn đăng ký bổ sung vào nền kinh tế trong 11 tháng năm 2021 là 3.673.602 tỷ đồng (giảm 26,0% so với cùng kỳ năm 2020), trong đó, số vốn đăng ký của doanh nghiệp thành lập mới là 1.454.231 tỷ đồng (giảm 22,6% so với cùng kỳ năm 2020). Có 38.800 doanh nghiệp đang hoạt động đăng ký tăng vốn trong 11 tháng năm 2021 (tăng 7,2% so với cùng kỳ năm 2020), số vốn đăng ký tăng thêm của các doanh nghiệp đang hoạt động đạt 2.219.371 tỷ đồng (giảm 28,1% so với cùng kỳ năm 2020). Vốn đăng ký bình quân trên một doanh nghiệp trong 11 tháng năm 2021 đạt 13,8 tỷ đồng, giảm 8,9% so với cùng kỳ năm 2020.

Tổng số lao động đăng ký của các doanh nghiệp thành lập mới trong 11 tháng năm 2021 là 784.224 lao động, giảm 19,2% so với cùng kỳ năm 2020.

– Phân theo lĩnh vực hoạt động:

Có 3/17 ngành có số lượng doanh nghiệp thành lập mới tăng so với cùng kỳ năm 2020 là: Kinh doanh bất động sản (tăng 10,3%); Vận tải kho bãi (tăng 7,0%); Thông tin và truyền thông (tăng 1,3%).

Các ngành có số lượng doanh nghiệp đăng ký thành lập mới chiếm tỷ lệ lớn nhất, gồm: Bán buôn; bán lẻ; sửa chữa ô tô, xe máy có 36.210 doanh nghiệp (chiếm 34,3%); Công nghiệp chế biến, chế tạo có 13.640 doanh nghiệp (chiếm 12,9%); Xây dựng có 12.955 doanh nghiệp (chiếm 12,3%).

Có 14/17 ngành có số lượng doanh nghiệp thành lập mới giảm so với cùng kỳ năm 2020, chủ yếu là những ngành, nghề chịu ảnh hưởng của dịch Covid-19: Sản xuất phân phối, điện, nước, gas (giảm 79,5%); Dịch vụ lưu trú và ăn uống (giảm 27,2%); Nông nghiệp, lâm nghiệp và thuỷ sản (giảm 25,2%); Hoạt động dịch vụ khác (giảm 22,1%) và Nghệ thuật, vui chơi và giải trí (giảm 21,9%).

– Phân theo địa bàn hoạt động:

Trong 11 tháng năm 2021, cả nước có 05/06 khu vực có số doanh nghiệp đăng ký thành lập giảm so với cùng kỳ năm 2020, gồm: Đông Nam Bộ (39.172 doanh nghiệp, giảm 23,9%); Tây Nguyên (3.446 doanh nghiệp, giảm 23,7%); Đồng bằng sông Cửu Long (7.533 doanh nghiệp, giảm 20,1%); Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung (15.132 doanh nghiệp, giảm 11,4%); Đồng bằng sông Hồng (34.729 doanh nghiệp, giảm 5,3%). Ngược lại, chỉ duy nhất khu vực Trung du và miền núi phía Bắc có sự gia tăng (5.606 doanh nghiệp, tăng 10,7%).

– Phân theo quy mô vốn:

Số lượng doanh nghiệp thành lập mới tăng ở 03/05 quy mô vốn so với cùng kỳ năm 2020. Trong đó, số doanh nghiệp đăng ký thành lập ở các quy mô vốn lớn có sự gia tăng, trong khi các quy mô vốn nhỏ lại có sự sụt giảm: quy mô trên 100 tỷ đồng có 1.753 doanh nghiệp (chiếm 1,7 %, tăng 15,9%); từ 50 – 100 tỷ đồng có 1.725 doanh nghiệp (chiếm 1,6%, tăng 8,7%); quy mô từ 20 – 50 tỷ đồng có 3.659 doanh nghiệp (chiếm 3,5%, tăng 2,8%). Số doanh nghiệp đăng ký thành lập ở quy mô vốn từ 10 – 20 tỷ đồng là 5.742 (chiếm 5,4%, giảm 15,7%) và từ 0 – 10 tỷ đồng là 92.739 (chiếm 87,8%, giảm 16,3%).

1.2. Doanh nghiệp quay trở lại hoạt động

Số doanh nghiệp quay trở lại hoạt động trong 11 tháng năm 2021 là 40.530 doanh nghiệp, giảm 0,7% so với cùng kỳ năm 2020.

Các lĩnh vực có số lượng doanh nghiệp quay trở lại hoạt động nhiều nhất trong 11 tháng năm 2021 là: Bán buôn; bán lẻ; sửa chữa ô tô, xe máy (14.769 doanh nghiệp, chiếm 36,4%); Xây dựng (5.879 doanh nghiệp, chiếm 14,5%); Công nghiệp chế biến, chế tạo (5.021 doanh nghiệp, chiếm 12,4%).

Số doanh nghiệp quay trở lại hoạt động tăng ở 08/17 lĩnh vực, bao gồm: Kinh doanh bất động sản (1.249 doanh nghiệp, tăng 13,1%); Sản xuất phân phối, điện, nước, gas (317 doanh nghiệp, tăng 10,8%); Dịch vụ việc làm; du lịch; cho thuê máy móc thiết bị, đồ dùng và các dịch vụ hỗ trợ khác (2.251 doanh nghiệp, tăng 2,5%); Thông tin và truyền thông (851 doanh nghiệp, tăng 2,3%); Hoạt động dịch vụ khác (519 doanh nghiệp, tăng 1,4%); Bán buôn; bán lẻ; sửa chữa ô tô, xe máy  (14.769 doanh nghiệp, tăng 0,6%); Công nghiệp chế biến, chế tạo (5.021 doanh nghiệp, tăng 0,6%) và Khoa học, công nghệ; dịch vụ tư vấn, thiết kế; quảng cáo và chuyên môn khác (2.690 doanh nghiệp, tăng 0,4%).

Số doanh nghiệp quay lại hoạt động trong 11 tháng năm 2021 giảm ở 09/17 lĩnh vực: Nghệ thuật, vui chơi và giải trí (328 doanh nghiệp, giảm 18,0%); Nông nghiệp, lâm nghiệp và thuỷ sản (578 doanh nghiệp, giảm 15,0%); Tài chính, ngân hàng và bảo hiểm (357 doanh nghiệp, giảm 7,5%) và Vận tải kho bãi (2.083 doanh nghiệp, giảm 7,2%)

2. Tình hình doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường

Dưới tác động của dịch bệnh, số doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường trong 11 tháng năm 2021 là 106.441 doanh nghiệp, tăng 13,9% so với cùng kỳ năm 2020. Trong đó, có 52.108 doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh, chiếm 49% tổng số doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường trong 11 tháng năm 2021.

2.1. Doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh

Số lượng doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh trong 11 tháng năm 2021 là 52.108 doanh nghiệp, tăng 17,3% so với cùng kỳ năm 2020.

Doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh chủ yếu thuộc các lĩnh vực: Bán buôn; bán lẻ; sửa chữa ô tô, xe máy (19.267 doanh nghiệp, chiếm 37%); Xây dựng (7.182 doanh nghiệp, chiếm 13,8%) và Công nghiệp chế biến, chế tạo (6.210 doanh nghiệp, chiếm 11,9%). Đây cũng là những ngành nghề có số doanh nghiệp quay trở lại hoạt động cao nhất.

Doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng kinh doanh tập trung chủ yếu ở quy mô vốn từ 0 – 10 tỷ đồng với 47.010 doanh nghiệp (chiếm 90,2%, tăng 16,1% so với cùng kỳ năm 2020). Ở quy mô từ 10 – 20 tỷ đồng có 2.805 doanh nghiệp (chiếm 5,4%, tăng 28,1% so với cùng kỳ năm 2020); từ 20 – 50 tỷ đồng có 1.520 doanh nghiệp (chiếm 2,9%, tăng 33,2% so với cùng kỳ năm 2020); từ 50 – 100 tỷ đồng có 476 doanh nghiệp (chiếm 0,9%, tăng 23,3% so với cùng kỳ năm 2020) và quy mô trên 100 tỷ đồng có 297 doanh nghiệp (chiếm 0,6%, tăng 20,7% so với cùng kỳ năm 2020).

Phần lớn doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh trong 11 tháng năm 2021 có thời gian hoạt động ngắn, chủ yếu là các doanh nghiệp có thời gian hoạt động từ 0-5 năm với 26.433 doanh nghiệp (chiếm 50,7%); 14.266 doanh nghiệp hoạt động từ 5-10 năm (chiếm 27,4%) và 11.409 doanh nghiệp hoạt động trên 10 năm (chiếm 21,9%).

Tính riêng ở Thành phố Hồ Chí Minh, số doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh trong 11 tháng năm 2021 là 14.914 (chiếm 28,6% số doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh của cả nước), tăng 12,8% so với cùng kỳ năm 2020.

2.2. Doanh nghiệp chờ làm thủ tục giải thể

Trong 11 tháng năm 2021, số doanh nghiệp chờ làm thủ tục giải thể là 39.469 doanh nghiệp, tăng 17,4% so với cùng kỳ năm 2020.

Các ngành kinh doanh có số lượng doanh nghiệp chờ giải thể lớn nhất là: Bán buôn; bán lẻ; sửa chữa ô tô, xe máy (14.042 doanh nghiệp, chiếm 35,6%); Xây dựng (5.033 doanh nghiệp, chiếm 12,8%); Công nghiệp chế biến, chế tạo (4.834 doanh nghiệp, chiếm 12,2%).

So với cùng kỳ năm 2020, tỷ lệ các doanh nghiệp chờ làm thủ tục giải thể giảm ở 02/17 lĩnh vực là: Thông tin và truyền thông (919 doanh nghiệp, giảm 9,7%); Tài chính, ngân hàng và bảo hiểm (362 doanh nghiệp, giảm 5,0%). Các ngành, lĩnh vực còn lại đều tăng so với cùng kỳ năm ngoái.

Phân theo quy mô vốn, doanh nghiệp chờ làm thủ tục giải thể tăng ở 5/5 quy mô vốn và tập trung chủ yếu ở quy mô vốn từ 0 – 10 tỷ đồng với 35.485 doanh nghiệp (chiếm 89,9%, tăng 17,4% so với cùng kỳ năm 2020). Ở quy mô vốn từ 10 – 20 tỷ đồng có 1.938 doanh nghiệp (chiếm 4,9%, tăng 14,9% so với cùng kỳ năm 2020); từ 20 – 50 tỷ đồng có 1.110 doanh nghiệp (chiếm 2,8%, tăng 20,9% so với cùng kỳ năm 2020); từ 50 – 100 tỷ đồng có 469 doanh nghiệp (chiếm 1,2%, tăng 18,4% so với cùng kỳ năm 2020) và trên trên 100 tỷ đồng có 467 doanh nghiệp (chiếm 1,2%, tăng 18,8% so với cùng kỳ năm 2020).

2.3. Doanh nghiệp đã giải thể, chấm dứt tồn tại

Số doanh nghiệp đã giải thể, chấm dứt tồn tại trong 11 tháng năm 2021 là 14.864 doanh nghiệp, giảm 3,7% so với cùng kỳ năm 2020.

06/17 ngành kinh doanh chính có số lượng doanh nghiệp đã giải thể, chấm dứt tồn tại tăng. Các lĩnh vực có tỷ lệ doanh nghiệp đã giải thể, chấm dứt tồn tại tăng cao so với cùng kỳ năm 2020 là: Sản xuất phân phối, điện, nước, gas; Khai khoáng và Nông nghiệp, lâm nghiệp và thuỷ sản với tỷ lệ tăng lần lượt là 77,3%; 63,4% và 24,3%.

Trong 11 tháng năm 2021, số doanh nghiệp đã giải thể, chấm dứt tồn tại có thời gian hoạt động từ 0-5 năm là 9.480 doanh nghiệp (chiếm 63,8%); 2.895 doanh nghiệp có thời gian hoạt động từ 5-10 năm (chiếm 19,5%) và 2.489 doanh nghiệp có thời gian hoạt động trên 10 năm (chiếm 16,7%).

Phân theo quy mô vốn, số lượng doanh nghiệp đã giải thể, chấm dứt tồn tại tăng ở 02/05 quy mô vốn. Trong đó tập trung chủ yếu ở quy mô vốn từ 0 – 10 tỷ đồng với 13.173 doanh nghiệp (chiếm 88,6%, giảm 3,9% so với cùng kỳ năm 2020); quy mô từ 10 – 20 tỷ đồng có 837 doanh nghiệp (chiếm 5,6%, tăng 1,0% so với cùng kỳ năm 2020); từ 20 – 50 tỷ đồng có 482 doanh nghiệp (chiếm 3,2%, tăng 9,8% so với cùng kỳ năm 2020); từ 50 – 100 tỷ đồng có 188 doanh nghiệp (chiếm 1,3%, giảm 13,8% so với cùng kỳ năm 2020) và ở quy mô trên 100 tỷ đồng có 184 doanh nghiệp (chiếm 1,2%, giảm 25,5% so với cùng kỳ năm 2020).

Nguồn: Cục Quản lýđăng ký kinh doanh

  • Sự kiện
  • Đào tạo