Tìm hiểu một số phương diện của chuỗi cung ứng, góp phần nhận diện các cơ hội và thách thức trong tiến trình hội nhập Kinh tế quốc tế

Thành phố Hồ Chí Minh ngày 25 tháng 5, 2022
Người biên soạn: Nguyễn Thanh Bình, Giám đốc Trung tâm Thông tin Thương mại, VCCI HCMC

Tóm lược: Bài trình bày này cố gắng tìm hiểu động thái vận động của chuỗi cung ứng qua một số phương diện, cấp độ như cấp độ quốc gia (bao gồm đối ngoại và đối nội), cho thấy tầm quan trọng và đặc điểm khái quát của chuỗi cung ứng toàn cầu (tính dễ rủi ro, tính phân mảnh, các tập đoàn đa quốc gia có vị thế chi phối, tiến hóa theo thời gian, chịu tác động của các hiệp định FTAs…); Cấp độ doanh nghiệp cho thấy động thái vận động trên thực tế của chuỗi cung ứng; mối liên hệ qua lại giữa tác động của các Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) và các chuỗi cung ứng; Nghiên cứu tình huống các nhà đầu tư quốc tế tái phân bố cơ sở sản xuất của mình tại Trung Quốc sang các thị trường khác dưới tác động của cạnh tranh thương mại Mỹ-Trung, qua đó tìm hiểu cơ sở hành động đằng sau các quyết định chọn lựa địa bàn đầu tư mới đó; và cuối cùng là tìm hiểu ý nghĩa rút ra từ khảo sát đánh giá Chỉ số Hiệu quả Logistics (LPI).

1. Tầm vĩ mô và vi mô hay cấp độ quốc gia (bao gồm đối ngoại và đối nội) và doanh nghiệp.
1.1. Cấp độ quốc gia. Các nước phương Tây như Hoa Kỳ, Úc…khi thiết kế khuôn khổ của quan hệ đối tác chiến lược (strategic partnership) hay đồng minh (alliance), yếu tố chuỗi cung ứng cũng được tính đến. Cụ thể, một trong những nguyên tắc quan trọng của việc xây dựng quan hệ là “độ tin cậy” (trust) và “đa dạng hóa” (diversity). Nhu cầu về sự tin cậy và đa dạng hóa lớn hơn bắt nguồn từ hai tác lực cơ bản: lực đòn bẩy tác động (leverage) và tính mong manh (fragility). “Những lo lắng về tính mong manh bắt nguồn từ tính dễ vỡ (brittleness) của các chuỗi cung ứng toàn cầu hóa. Tính phân mảnh (fragmentation) xuyên quốc gia của chuỗi cung ứng nhìn chung đã có những tác động tích cực: giá cả thấp hơn, mức sống cao hơn và mạng lưới phân phối chủ yếu hiệu quả và đáp ứng tích cực. Tuy nhiên, những lợi ích này đi kèm với những mặt trái thực sự. Trong ngắn hạn, tính mong manh có thể dẫn đến sự gián đoạn chuỗi cung ứng toàn cầu. Về lâu dài, những lo ngại chính đáng về sự hiện diện của các tác nhân không đáng tin cậy với lực đòn bẩy đối với các chuỗi cung ứng quan trọng có thể bị khai thác bởi các phần tử bảo hộ, nếu các động thái chính trị liên quan không được quản lý cẩn thận”. (Theo Dr Darren Lim và những người khác)

1.2. Chuỗi cung ứng trong các cân nhắc về chính sách Thương mại và Đầu tư của chính phủ. Trong thế giới của các chuỗi cung ứng toàn cầu, lợi ích của doanh nghiệp và quốc gia có thể trùng khớp hoặc xung đột với nhau. Ví dụ, một doanh nghiệp tìm cách giảm thiểu chi phí sản xuất và có thể chuyển sang các nhà máy lắp ráp chi phí thấp hơn ở nước ngoài, trong khi một quốc gia tìm cách cung cấp toàn dụng lao động cho công dân của mình. Một doanh nghiệp tìm kiếm sự cải tiến liên tục về công nghệ và chất lượng thể hiện trong các sản phẩm của mình và có thể chuyển sang nhà sản xuất linh kiện nước ngoài, trong khi một quốc gia tìm cách tạo ra sự thay đổi công nghệ trong nước. Một doanh nghiệp tìm cách tối đa hóa lợi nhuận và thỏa mãn nhu cầu của người tiêu dùng bằng cách sử dụng kết hợp các sản phẩm nội địa và nhập khẩu, trong khi một quốc gia tìm cách cân bằng tài khoản thương mại quốc tế và tạo ra tăng trưởng kinh tế trong nước.
Việc hình thành và tham gia các hiệp định thương mại tự do (FTAs) giữa các quốc gia ở cấp chính phủ thường dành các ưu đãi (trong tương quan với các quốc gia không thành viên và qua đó giúp mang lại lợi thế cạnh tranh) giúp cho các nhà đầu tư có thêm cơ hội tiếp cận thị trường của các nước thành viên vượt qua các rào cản thuế quan và phi thuế quan, nhằm tìm kiếm nguồn lực (resource seeking), tìm kiếm thị trường (market seeking) và các tài sản chiến lược (strategic asset seeking). Hiệp định thương mại tự do là quá trình tương tác hai chiều giữa chính phủ và doanh nghiệp cũng như giữa các bên hữu quan tham gia các hiệp định thương mại tự do.

1.3. Cấp độ doanh nghiệp. Các nhà hoạch định chuỗi cung ứng chơi một trò chơi liên tục để xác định nguồn nguyên liệu thô ở đâu và cái gì, địa điểm lắp ráp hiệu quả nhất về chi phí và cấu trúc hiệu quả nhất của mạng lưới vận tải của họ, để đạt được mục tiêu cuối cùng là giá vốn hàng bán thấp, chất lượng tốt và giao hàng tận nơi cơ sở khách hàng của họ trong một khung thời gian hiệu quả. Trong việc thiết lập chuỗi cung ứng toàn cầu, một tập đoàn phải đối mặt với ba vấn đề cơ bản. Đầu tiên, năng lực cốt lõi của công ty là gì? Công ty nên thực hiện nội bộ phần nào của chuỗi sản xuất và phần nào nên được ký hợp đồng? Thứ hai, sản phẩm nên được lắp ráp và đóng gói ở đâu? Nó có nên được thực hiện ở Hoa Kỳ, ở Trung Quốc hay ở những nơi khác không? Thứ ba, công ty nên đầu tư vào cơ sở sản xuất và làm chủ quy trình hay dựa vào nhà cung cấp? Kết quả của những quyết định này xác định hình dạng, vị trí và các mối liên kết trong chuỗi cung ứng. Vì mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận lên doanh nghiệp và nhà đầu tư quốc tế sẽ chọn lựa những địa điểm nào có thể mang lại cơ hội khai thác được nhiều lợi ích nhất nên một chuỗi cung ứng thường có tính phân mảnh (fragmentation) tùy theo đặc thù ngành. Trong việc định hình cấu hình sản xuất quốc tế và qua đó tác động tới chuỗi cung ứng toàn cầu, các tập đoàn đa quốc gia đóng vai trò chi phối.

2. Sự tiến hóa của bản thân chuỗi cung ứng toàn cầu. Trong nửa thế kỷ qua, ba thay đổi mang tính cách mạng đã xác định lại phương thức sản xuất kinh doanh và tạo ra sự phát triển của chuỗi cung ứng toàn cầu hóa. Đầu tiên là sự phát triển của vận chuyển giá rẻ cùng với thông tin liên lạc nhanh và rẻ. Thứ hai là sự gia tăng của các chiến lược quản lý kinh doanh nhằm tập trung vào năng lực cốt lõi, sản xuất đúng lúc, cải tiến ổn định về chất lượng sản phẩm, giảm thiểu rủi ro, linh hoạt trong việc đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng và tối đa hóa lợi nhuận trong chuỗi cung ứng. thay vì cho từng thực thể trong chuỗi đó. Thứ ba là việc giảm các rào cản thương mại và đầu tư quốc tế trên toàn thế giới thông qua các hiệp định thương mại đa phương và song phương. Cơ bản của ba thay đổi mang tính cách mạng này là một thời kỳ tương đối ổn định trên thế giới và không có chiến tranh toàn cầu có thể đe dọa vận tải biển quốc tế. Những thay đổi này đã khuyến khích toàn cầu hóa kinh doanh, nhưng toàn cầu hóa này cũng có thể trùng hợp hoặc mâu thuẫn với các mục tiêu quốc gia về toàn dụng lao động, tăng trưởng kinh tế, cân bằng tài khoản thương mại quốc tế và an ninh quốc gia. Chuỗi cung ứng của Boeing cho 787 Dreamliner minh họa một số nguyên lý trung tâm của ngành sản xuất thế kỷ 21. Boeing tập trung vào năng lực cốt lõi của mình (thiết kế, lắp ráp và tiếp thị máy bay), cố gắng tối đa hóa hiệu quả trên toàn bộ mạng lưới sản xuất, giảm thiểu hàng tồn kho thông qua quy trình sản xuất đúng lúc (just-in-time) và làm việc với các nhà cung cấp để tạo ra tiến bộ công nghệ và kiểm soát chất lượng chính xác hơn. Một số mục tiêu kinh doanh này ưu tiên tìm nguồn cung ứng sản xuất hoặc bộ phận từ nước ngoài trong khi các mục tiêu khác lại ưu tiên các nguồn trong nước. Ví dụ, một số người chỉ trích việc sản xuất cánh ở Nhật Bản, lo sợ rằng Boeing có thể đang thúc đẩy ngành công nghiệp máy bay Nhật Bản có thể trở thành đối thủ cạnh tranh trong tương lai. 21 Boeing cũng phải xem xét các chính sách của chính phủ Hoa Kỳ và nước ngoài trong nhiều khía cạnh khác nhau trong các quyết định kinh doanh của mình. Một chiếc máy bay Boeing được làm từ hơn ba triệu bộ phận, có nghĩa là chuỗi cung ứng của công ty là một hoạt động toàn cầu, quy mô lớn. Hơn 150.000 người đang làm việc tại hơn 65 quốc gia, chưa kể hàng trăm nghìn người khác đang làm việc cho các nhà cung cấp của Boeing trên toàn cầu.

3. Các tác động của hiệp định thương mại tự do tới liên kết sản xuất trong chuỗi cung ứng. Làm thế nào để một hiệp định thương mại tự do thay đổi các hệ quả phân phối của các công ty có và không có liên kết GSC. Việc cắt giảm thuế quan bổ sung giữa các nước đối tác là lợi ích trước mắt nhất của một FTA. Nhưng việc tận dụng những lợi ích này không phải là không khiến cho công ty phải chịu thêm các chi phí (Bernard và những người khác). Đối với các doanh nghiệp không có liên kết chuỗi cung ứng thực chất, những chi phí này có thể lớn hơn lợi ích thuế quan tiềm năng. Thông thường, sự khác biệt rất nhỏ hoặc thậm chí không đáng kể giữa thuế quan được hệ thống hóa trong FTA và thuế MFN theo WTO hoặc các thỏa thuận ưu đãi hiện có khác — xét cho cùng, thuế quan được giới hạn thấp hơn bằng 0. Hơn nữa, việc không phụ thuộc vào các nhà cung cấp hoặc khách hàng ở các vị trí địa lý cụ thể được định hình bởi chuỗi cung ứng có nghĩa là các công ty này có thể đơn giản chuyển hướng thương mại sang các thị trường khác nếu không tận dụng được các FTA khiến sản phẩm của họ kém cạnh tranh hơn. Những cân nhắc này phần nào giải thích tại sao việc sử dụng FTA trên toàn cầu rất thấp (Thomson Reuters và KPMG 2015).
Thứ nhất, trong trường hợp liên kết chuỗi cung ứng thượng nguồn (backward lingage), tức là khi một công ty sử dụng đầu vào nước ngoài để sản xuất hàng hóa trung gian hoặc cuối cùng, thuế quan ưu đãi sẽ làm giảm chi phí đầu vào và do đó làm giảm chi phí sản phẩm của họ. Vì những đầu vào này như nguyên liệu thô hoặc các thành phần có giá trị cao thường là một bộ phận tích hợp của mạng lưới sản xuất và không thể dễ dàng thay thế bằng cách tìm nguồn cung ứng từ các thị trường trong nước hoặc nước ngoài với mức giá cạnh tranh, nên lợi ích từ mức thuế thấp hơn sẽ rất đáng kể. Ngoài ra, nếu các công ty này lần lượt bán sản phẩm của mình cho các quốc gia đối tác khác, họ có thể hưởng lợi từ việc giảm thuế nhập khẩu đối với hàng xuất khẩu của họ. Khoản tiết kiệm kép này có khả năng giúp làm tăng khả năng cạnh tranh của công ty trên thị trường trong nước và quốc tế.
Thứ hai, trong trường hợp liên kết chuỗi cung ứng hạ nguồn (forward linkage), nghĩa là, khi giá trị gia tăng trong nước của một công ty được gắn vào quá trình sản xuất và xuất khẩu hàng hóa trung gian hoặc cuối cùng của đối tác ngoài nước, tự do hóa thương mại ưu đãi sẽ làm giảm thuế nhập khẩu ở các nước đến, do đó làm giảm giá thành sản phẩm và do đó tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường của các thành viên FTA. Thứ ba, các FTA thường vượt ra ngoài khuôn khổ thuế quan và bao gồm một loạt các vấn đề ở phía sau đường biên giới – chẳng hạn như bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, quy định đầu tư và thực thi hợp đồng – đặc biệt hấp dẫn đối với các công ty xuất khẩu các sản phẩm hoặc dịch vụ thâm dụng tri thức sang các quốc gia có khung pháp lý yếu. Các điều khoản tạo thuận lợi thương mại của FTA cũng có thể cung cấp các phương tiện quan trọng để giảm gánh nặng cho các doanh nghiệp cần vận chuyển hàng hóa của họ qua nhiều biên giới. Ngoài ra, các FTA có thể tạo điều kiện cho đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) né thuế (tariff jumping) (Blonigen et al. 2004), qua đó cho phép các doanh nghiệp mở rộng sang các thị trường trước đây hoặc mới đóng cửa do thuế quan hoặc chống bán phá giá cao, bằng cách đầu tư và chuyển sản xuất của họ sang các nước đối tác có FTA với các quốc gia đó. Cuối cùng nhưng không kém phần quan trọng, tiềm năng thu hút FDI vào nước nhà của các FTA cũng tạo cơ hội cho các công ty tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu leo lên chuỗi giá trị, chuyển từ OEM (nhà sản xuất thiết bị gốc) sang ODM (nhà sản xuất thiết kế gốc) và thậm chí là OBM (nhà sản xuất thương hiệu gốc) khi họ liên doanh với các đối tác có công nghệ tiên tiến hơn. Đối với các doanh nghiệp không có liên kết chuỗi cung ứng thực chất, những chi phí này có thể lớn hơn lợi ích thuế quan tiềm năng. Thông thường, sự khác biệt rất nhỏ hoặc thậm chí không đáng kể giữa thuế quan được hệ thống hóa trong FTA và thuế MFN theo WTO hoặc các thỏa thuận ưu đãi hiện có khác — xét cho cùng, thuế quan được giới hạn thấp hơn bằng 0. Hơn nữa, việc không phụ thuộc vào các nhà cung cấp hoặc khách hàng ở các vị trí địa lý cụ thể được định hình bởi chuỗi cung ứng có nghĩa là các công ty này có thể đơn giản chuyển hướng thương mại sang các thị trường khác nếu không tận dụng được các FTA khiến sản phẩm của họ kém cạnh tranh hơn. Những cân nhắc này phần nào giải thích tại sao việc sử dụng FTA trên toàn cầu rất thấp (Thomson Reuters và KPMG 2015).

4. Nghiên cứu tình huống: Tìm hiểu động cơ và lý do đằng sau dịch chuyển cơ sở sản xuất của các tập đoàn đầu tư quốc tế ra khỏi thị trường Trung Quốc tới các thị trường khác. (Tham khảo tư liệu từ báo cáo của Th Economic Intelligence Unit). Làn sóng dịch chuyển cơ sở sản xuất của các tập đoàn đầu tư nước ngoài ra khỏi Trung Quốc qua các quốc gia khác đã diễn ra từ trước khi chiến tranh thương mại Mỹ Trung nổ ra trong nhiều năm nhằm đa dạng hóa nguồn cung. Điều này phần lớn phản ánh mối lo ngại về giá đất và chi phí lao động tăng cao ở Trung Quốc, cũng như nhận thức ngày càng cao về những rủi ro mà việc tập trung sản xuất quá mức có thể tạo ra cho chuỗi cung ứng toàn cầu. Chiến tranh thương mại đã đẩy nhanh xu hướng này, ủng hộ việc chọn lựa chuyển dịch tới các nước trong Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), nơi trong nhiều trường hợp đang phát triển thị trường tiêu dùng địa phương, có sự hiện diện của các cụm công nghiệp hiện có và cơ sở hạ tầng chấp nhận được đã giúp thu hút đầu tư. Một mạng lưới năng động các hiệp định thương mại tự do (FTA) càng làm tăng sức hấp dẫn của các thị trường này như là cơ sở cho sản xuất. Hiệp định Đối tác Tiến bộ và Toàn diện xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) mà Malaysia, Singapore và Việt Nam là thành viên, là hợp phần mới nhất của xu hướng này.
Ngành hàng sản phẩm công nghệ thông tin, truyền thông (ITC). Việt Nam và Malaysia được cho là đã được hưởng lợi nhiều nhất từ cuộc chiến thương mại Mỹ – Trung, đặc biệt trong lĩnh vực sản xuất các sản phẩm ICT cấp thấp, như linh kiện trung gian và sản xuất hàng tiêu dùng như điện thoại di động và máy tính xách tay. Các lý do là các công ty điện tử lớn đã có hoạt động tại các quốc gia này. Ví dụ như Dell (Mỹ), Sony và Panasonic (cả Nhật Bản) có nhà máy ở Malaysia, trong khi Samsung (Hàn Quốc) và Intel (Mỹ) đã hiện diện tại Việt Nam, yếu tố giúp việc tái triển khai đầu tư và sản xuất một cách tương đối thuận lợi. Ngoài ra, cả hai nước đều có cơ sở hạ tầng đường bộ, đường sắt và cảng khá tốt, do đó đã giúp phát triển mạng lưới vận tải và hậu cần địa phương mạnh mẽ để hỗ trợ thương mại hàng hóa. Cả hai nước cũng là bên ký kết nhiều hiệp định FTA, bao gồm cả CPTPP và Cộng đồng Kinh tế ASEAN. Những cân nhắc tích cực về môi trường kinh doanh — chẳng hạn như sự tồn tại của hệ thống luật doanh nghiệp rõ ràng và ổn định ở Malaysia, và các chính sách xúc tiến đầu tư mạnh mẽ vào Việt Nam thông qua các đặc khu kinh tế mới của quốc gia đó — sẽ tăng thêm sức hấp dẫn của hai quốc gia đối với các doanh nghiệp được coi là tiềm năng các địa điểm đầu tư cho CNTT-TT.
Ấn Độ, Indonesia và Thái Lan cũng có thể đảm bảo một số lợi ích từ việc di dời ngành sản xuất CNTT-TT định hướng xuất khẩu. Tuy nhiên, loại hình sản xuất xuất khẩu này ở các thị trường này còn hạn chế hơn so với Việt Nam và Malaysia hiện nay, có nghĩa là liên kết thương mại quốc tế ở các thị trường này có thể còn kém phát triển. Trong số ba, Thái Lan có lẽ là tiềm năng nhất. Thái Lan đã xuất khẩu lượng thiết bị điện tử trị giá khoảng 35,6 tỷ đô la Mỹ vào năm 2017 và tự hào có thế mạnh đáng kể trong lĩnh vực sản xuất như vậy trong quá khứ. Các chính sách của chính phủ Thái Lan nhằm thúc đẩy nâng cấp công nghiệp, chẳng hạn như chương trình Công nghiệp 4.0 và đặc khu kinh tế Hành lang Kinh tế phía Đông, cũng có thể giúp giảm chi phí cho các công ty nước ngoài đang tìm cách thiết lập sự hiện diện tại đây.
Philippines (sẽ) chứng kiến sự gián đoạn nhẹ bắt nguồn từ cuộc chiến thương mại, do tầm quan trọng của thị trường Trung Quốc đối với các lô hàng của các thành phần trung gian ICT từ nền kinh tế đó. Tuy nhiên, không có kỳ vọng Philippines sẽ hưởng lợi lớn từ bất kỳ sự thay đổi nào trong chuỗi cung ứng xuất khẩu CNTT-TT, do môi trường kinh doanh và quản lý yếu kém của nước này. Hệ sinh thái kỹ thuật số kém phát triển của đất nước cũng sẽ là một trở ngại nữa cho đầu tư, với tốc độ internet chậm nhất ở châu Á.
Nhật Bản, Singapore, Hàn Quốc và Đài Loan (sẽ) phải hứng chịu sự gián đoạn lớn hơn nữa từ cuộc chiến thương mại, đặc biệt là trong ngắn hạn, do tầm quan trọng của thị trường Trung Quốc đối với các nhà xuất khẩu ở các nền kinh tế này. Trung Quốc là điểm đến chính của hàng hóa ICT trung gian và cuối cùng từ cả bốn nền kinh tế, có nghĩa là các công ty trong lĩnh vực đó (sẽ) chịu nhiều tác động của thuế quan đối với nhu cầu đối với các sản phẩm này. Một số tập đoàn công nghiệp quan trọng nhất của Đài Loan, bao gồm FoxConn và Công ty Sản xuất Chất bán dẫn Đài Loan, cũng có các hoạt động lớn tại Trung Quốc. Mặc dù các công ty từ Nhật Bản, Hàn Quốc và Đài Loan (sẽ) tìm cách giảm thiểu tranh chấp bằng cách mở rộng các hoạt động mới và hiện có ở Đông Nam Á, nhưng quy mô thị trường của Trung Quốc đồng nghĩa với việc các công ty này sẽ rất khó nhân rộng hoạt động sản xuất đó ở các nước khác. Thuế cao, đất đai hạn chế và lao động đắt đỏ tại các nước Nhật, Hàn và Đài sẽ ngăn cản việc thu hút trở lại đầu tư của các hoạt động sản xuất ICT từ Trung Quốc trở lại bốn thị trường này (reshoring). Tuy nhiên, tác động của chiến tranh thương mại đối với xuất khẩu từ Hàn Quốc, Nhật Bản, Đài Loan và Singapore sẽ bị hạn chế do cả 4 nước đều có xu hướng sản xuất các linh kiện ICT cao cấp không dễ thay thế thông qua việc thay thế nhập khẩu. Do đó, mặc dù hoạt động của các công ty Trung Quốc từ các nền kinh tế này có thể bị gián đoạn, nhưng xuất khẩu nội địa của họ sẽ ít bị tổn thương hơn.
Ngành hàng trang phục và quần áo may sẵn. Mặc dù hàng may mặc cấp thấp và sản xuất RMG đã đa dạng hóa ra khỏi Trung Quốc trong một số năm nay, nhưng Trung Quốc vẫn thống trị lĩnh vực này. Xuất khẩu hàng dệt may của Trung Quốc đạt khoảng 257 tỷ USD trong năm 2017 (không bao gồm giày dép, trị giá thêm 48,2 tỷ USD). Trong tổng số này, 38,7 tỷ đô la Mỹ đã được chuyển đến thị trường Mỹ, theo số liệu từ Văn phòng Dệt may Hoa Kỳ. Trong khi đó, số liệu năm 2016 của Tổ chức Thương mại Thế giới cho thấy Trung Quốc chiếm 36,2% xuất khẩu dệt may toàn cầu và 34,5% xuất khẩu quần áo toàn cầu. Do đó, việc áp thuế đối với hàng may mặc của Trung Quốc xuất khẩu sang Mỹ sẽ tạo ra cơ hội đáng kể cho các nhà sản xuất đối thủ có khả năng định vị mình như những lựa chọn thay thế cạnh tranh về chi phí. Tác động của việc tái phân phối này có thể là khiêm tốn trong ngắn hạn, nhưng sẽ tăng lên khi tranh chấp thương mại bùng phát. Trung Quốc ngày càng giảm sở thích sản xuất các mặt hàng xuất khẩu có giá trị thấp như hàng may mặc, vì họ ưu tiên các sản phẩm có giá trị cao hơn như điện tử và máy móc, sẽ tạo ra một luồng gió mới cho xu hướng. Một rủi ro tiềm ẩn đối với việc giành thị phần ở Mỹ có thể xuất hiện liên quan đến vai trò của Trung Quốc với tư cách là nhà cung cấp hàng dệt may và các nguyên liệu đầu vào khác cho các nhà sản xuất RMG ở các nước như Bangladesh. Điều này có thể có vấn đề nếu không đủ giá hàm lượng giá trị gia tăng trong giai đoạn sản xuất cuối cùng, dẫn đến việc những mặt hàng xuất khẩu này bị hải quan Hoa Kỳ coi là sản phẩm của Trung Quốc. Tuy nhiên, chúng tôi cho rằng rủi ro này là tương đối thấp, đặc biệt với khả năng nhiều chuỗi sản xuất hàng may mặc sẽ chuyển sang các địa điểm bên ngoài Trung Quốc theo thời gian.
Cuộc chiến thương mại được kỳ vọng (sẽ) mang lại lợi ích mạnh mẽ cho ba nhà xuất khẩu hàng may mặc lớn ở châu Á. Bangladesh có ngành công nghiệp RMG lâu đời và là nước xuất khẩu RMG lớn thứ hai trên thế giới sau Trung Quốc, với Mỹ và EU là thị trường xuất khẩu lớn nhất. Ngay cả trước khi xảy ra chiến tranh thương mại, thị phần của Bangladesh trong xuất khẩu RMG toàn cầu vẫn đang tăng lên, nhờ vào khả năng sản xuất chi phí thấp. Các thương hiệu thời trang quốc tế lớn — chẳng hạn như H&M, GAP, Levi’s và Zara — đã có sản xuất các cơ sở ở Bangladesh, nghĩa là các thương hiệu này có thể dễ dàng chuyển hướng sang Bangladesh nếu thuế nhập khẩu từ Trung Quốc khiến các sản phẩm đó đắt hơn ở Mỹ. Tuy nhiên, sẽ mất thời gian để các nhà khai thác địa phương xây dựng năng lực sản xuất để có thể hấp thụ đầy đủ những thay đổi này.
Ngành may mặc của Việt Nam sẽ là một đối tượng hưởng lợi lớn khác từ thuế quan của Hoa Kỳ. Việt Nam là nước xuất khẩu RMGs lớn thứ ba thế giới và có quan hệ thương mại chặt chẽ với Hoa Kỳ. Việt Nam đã xuất khẩu hàng may mặc trị giá 3,3 tỷ đô la Mỹ sang Hoa Kỳ trong năm 2017, chiếm gần 50% tổng kim ngạch xuất khẩu RMG của nước này. Về nhiều mặt, Việt Nam là thị trường dễ hoạt động hơn Bangladesh, nhưng mức lương ở Bangladesh sẽ tiếp tục ở mức thấp nhất trong số các quốc gia xuất khẩu hàng may mặc lớn, tạo lợi thế trong lĩnh vực may mặc có chi phí cao.
Mặc dù Việt Nam và Bangladesh đã là những trung tâm sản xuất hàng may mặc quan trọng, nhưng về lâu dài sẽ không thể sản xuất ở quy mô tương đương với Trung Quốc, cả về số lượng và khả năng tích hợp chuỗi cung ứng. Trong khu vực châu Á, Ấn Độ là quốc gia duy nhất có thể đạt được mức sản lượng này. Mặc dù các quốc gia như Bangladesh được hưởng lợi thế về chi phí tương tự như Ấn Độ, do mức lương tương đối thấp hơn, khu vực công nghiệp của Ấn Độ có ưu thế hơn khi tích hợp các quy trình sản xuất liên quan đến sản xuất hàng may mặc, từ dệt, kéo sợi đến sản phẩm cuối cùng. Điều này làm cho nó trở thành một điểm đến thay thế hấp dẫn sau Trung Quốc về đầu tư sản xuất hàng may mặc. Ngoài ra, Ấn Độ là nước sản xuất bông lớn, có nghĩa là nước này không phụ thuộc vào nhập khẩu nguyên liệu thô để cung cấp cho ngành may mặc của mình, như Bangladesh đã làm. Tuy nhiên, luật lao động lỗi thời của Ấn Độ sẽ là một trở ngại lớn để đạt được tiềm năng của nước này trong lĩnh vực sản xuất hàng xuất khẩu RMG.

5. Chỉ số Hiệu quả Logistics – Logistics Performance Index (LPI)
Việc đạt được thỏa thuận tham gia vào một hiệp định thương mại tư do, giúp tiếp cận thị trường của đối tác tham gia hiệp định một cách thuận lợi và cạnh tranh và qua đó khai thông chuỗi cung ứng đã là nền tảng cho tăng trưởng đầu tư và thương mại giữa các bên đối tác. Nhưng khai thác được tối đa lợi ích hay không còn đỏi hỏi sự phối hợp của tổ hợp các thành tố quyết định trong đó không thể không nhắc đến vai trò của hệ thống logistics quốc gia, có vai trò ví như giúp cho mạnh máu lưu thông thông suốt. Để đo lường thể trạng của mạnh máu lưu thông đó trên cơ sở đó có tham số đưa ra chỉ dẫn điều trị phù hợp. Ngân hàng Thế giới đã xây dựng bộ chỉ số đo lường hiệu quả logistics, Logistics Performance Index (LPI) còn được gọi là chỉ số năng lực logistics quốc gia. Chỉ số LPI có vai trò là công cụ đối chuẩn tương tác giúp các quốc gia xác định điểm yếu và điểm mạnh trên các phương diện cấu thành hệ thống logistics quốc gia trong tương quan với các quốc gia khác, qua đó LPI giúp xác định các thách thức và cơ hội và những gì có thể làm để cải thiện hiệu quả năng lực logistics tổng thể.
Ngân hàng Thế giới xác định 6 tiêu chí để đánh năng lực về logistics của một quốc gia như sau:
– Cơ sở hạ tầng (Infrastructure): Những cơ sở hạ tầng liên quan đến chất lượng thương mại và vận tải (cảng, đường sắt, đường bộ, công nghệ thông tin);
– Giao hàng quốc tế (Shipments International): Mức độ dễ dàng khi thu xếp cho các chuyến hàng với giá cả cạnh tranh;
– Năng lực logistics (Competence Logistics): Năng lực và chất lượng của các dịch vụ logistics (Ví dụ: Các nhà điều hành vận tải, môi giới hải quan);
– Theo dõi và truy xuất (Tracking & Tracing): Khả năng theo dõi và định vị các lô hàng;
– Đúng lúc (Timeliness): Sự đúng hạn của các lô hàng khi tới điểm đích;
– Hải quan (Customs): hiệu quả của quá trình thông quan, chẳng hạn như tốc độ, tính đơn giản, và tính có thể dự liệu trước của các thủ tục hải quan.
Đánh giá xếp hạng của WB được xếp vào 4 nhóm và theo đó ta thấy có sự tương đồng về kết quả hoạt động của ngành logistics của từng quốc gia với trình độ phát triển kinh tế xét theo phương diện thu nhập bình quân đầu người. Việt Nam được xếp nhất bảng các nước có thu nhập trung bình thấp và Trung Quốc được xếp nhất bảng nhóm các nước có thu nhập trung bình cao cho thấy các nước này có sự phát triển vượt trội so với các nước cùng nhóm.

Một số hàm ý rút ra từ việc lựa chọn các chỉ số:
+ Cơ sở hạ tầng (infrastructure) hàm ý chất lượng của hạ tầng liên quan tới thượng mại và vận tải (The quality of trade – and transport-related infrastructure). Chuỗi cung ứng toàn cầu không thể tồn tại nếu không có mạng lưới giao thông hiệu quả được hỗ trợ bởi cơ sở hạ tầng (cảng, đường bộ, đường sắt, sân bay, v.v.) cho phép các sản phẩm trong mạng sản xuất di chuyển tự do từ phân đoạn này sang phân đoạn khác của chuỗi. Một phần của cơ sở hạ tầng và giao thông vận tải quan trọng đối với chuỗi cung ứng toàn cầu dường như là vận tải biển và vận tải hàng không. Các đại dương không còn là rào cản ngăn cách và bảo vệ các quốc gia. Thay vào đó, thông tin liên lạc và giao thông hiện đại đã đưa các thị trường trên thế giới đến ngưỡng cửa của nhau. Đại dương và bầu trời đã trở thành những con đường tương tác hơn là những rào cản ngăn cách. Tuy nhiên, vận chuyển đặt ra một số vấn đề đối với chính sách công. Những điều này xoay quanh các rủi ro trong chuỗi cung ứng, đặc biệt là chi phí, rủi ro bảo mật và sự chậm trễ trong vận chuyển. Theo báo cáo của Bloomberg Intelligence, hạ tầng là thách thức lớn nhất của Việt Nam đặc biệt là các cảng biển. Trung Quốc chiếm giữ vị trí của 6 trong số 10 cảng có lưu lượng container hàng đầu thế giới trong đó cảng Thượng Hải đứng số một, trong khi hai cảng lớn nhất của Việt Nam là cảng biển TP. Hồ Chí Minh và cảng Cái Mép chiếm vị trí 25 và 50.
+ Giao hàng quốc tế (international shipment) đề cập đến sự dễ dàng sắp xếp các chuyến hàng quốc tế có giá cả cạnh tranh (The ease of arranging competitively priced international shipments). Ở những công ty hoạt động tốt nhất, việc dễ dàng sắp xếp các lô hàng có xu hướng làm giảm điểm số LPI tổng thể, có thể do các yếu tố kinh tế vĩ mô thường làm cho dịch vụ ở đó đắt hơn, điều này có thể khiến việc sắp xếp các lô hàng được coi là có giá cạnh tranh ở nơi khác” (theo Arvis). Tình hình xung đột Nga-Ucraina tác động bất lợi tới việc thu xếp giao nhận hàng tại khu vực này là ví dụ điển hình minh họa cho tiêu chí này.
+ Hải quan (customs) Tiêu chí này đề cập tới Hiệu quả của quy trình thông quan các cửa khẩu biên giới (The efficiency of customs and border management clearance): Các quốc gia có điểm hải quan cao hơn có quy trình hải quan nhanh hơn và ít bị chậm trễ hơn. Để tạo thuận lợi cho thương mại, các thủ tục hải quan phải được đơn giản hóa và số lượng của nó phải được giảm thiểu. Các cơ quan biên giới khác bao gồm các cơ quan tiêu chuẩn, vệ sinh, kiểm dịch động thực vật, vận tải và thú y. Số lượng các cơ quan và số lượng các cuộc thanh tra thực tế của họ đang trong quá trình giảm. Các cam kết tạo thuận lợi của quốc gia đặt ra yêu cầu nâng cấp và tương thích với hệ thống thông quan của các quốc gia thành viên.
+Năng lực và chất lượng của dịch vụ logistics (The competence and quality of logistics services). Năng lực và chất lượng của các dịch vụ hậu cần có thể là lý do chính để chọn một quốc gia cụ thể để giao thương và độ tin cậy của các dịch vụ. Tuy nhiên, chúng ta cũng phải lưu ý rằng các yếu tố khác như chính sách biên giới và môi trường kinh doanh ảnh hưởng đến hoạt động logistics. Có nhiều thành tố phụ then chốt tác động tới chỉ số này như tính minh bạch của các quy trình, tính dễ tiên liệu (cụ thể liên quan tới quy trình thông quan) và độ tin cậy của các dịch vụ.
+Tính kịp thời (timeliness) liên quan tới tần suất mà lô hàng đến tay người nhận trong thời gian giao hàng đã định hoặc dự kiến. phụ thuộc rất nhiều vào chất lượng của dịch vụ logistics và cơ sở hạ tầng. Theo Arvis et al. [2018, tr. 28], việc giao hàng bị gián đoạn có thể do các yếu tố sau: “không thể đoán trước được trong quá trình thông quan, sự chậm trễ của quá trình vận chuyển nội địa và độ tin cậy của dịch vụ thấp”
+ Khả năng theo dõi và truy nguyên các lô hàng (track & trace).
Với hệ thống logistics cấp doanh nghiệp, các quyết định kinh doanh chủ yếu dựa trên sự đánh đổi của các loại chi phí về vận tải, lưu kho và phương tiện. Với hệ thống logistics ở bình diện quốc gia, sẽ phải cân đối cả các đánh đổi phi kinh tế như yếu tố môi trường và xã hội. Hệ thống logistics quốc gia là người cung cấp hạ tầng và kết nối không gian trong khi đó hệ thống logistics doanh nghiệp là người sử dụng. Ở mức độ rộng lớn, tính cạnh tranh của hệ thống logistics doanh nghiệp sẽ chịu sự tác động bởi tính kết nối và tính hiệu quả của hệ thống logistics quốc gia. Và hệ quả là hệ thống logistics quốc gia tập trung vào việc phát triển và cung cấp hạ tầng trong khi đó hệ thống logistics doanh nghiệp tập trung vào việc tối ưu hóa các quyết định về chuỗi cung ứng dựa trên hạ tầng do hệ thống logistics quốc gia cung cấp.
Xét từ góc độ điều hành chính sách cấp quốc gia mà báo cáo LPI của WB cho thấy, các trọng tâm chính sách của các quốc gia đang từ ưu tiên cho phát triển hạ tầng và tạo thuận lợi thương mại dần mở rộng phạm vi quan tâm sang mục tiêu phát triển bền vững và hồi phục thích ứng nhanh. Không chỉ các nước phát triển mà cả các nước đang phát triển cũng quan tâm tới việc can thiệp vào khâu đào tạo tăng cường kỹ năng cho nguồn nhân lực, hoàn thiện khuôn khổ pháp lý liên quan tới dịch vụ logistics, dù phương diện này vẫn còn đang là thách thức đối với các nước đang phát triển. Việc cung ứng các dịch vụ logistics phải dựa trên cơ chế thị trường có sự tham gia của khu vực tư nhân, gồm các dịch vụ xe tải vận chuyển, môi giới, vận hành kho bãi đầu cuối và thách thức đặt ra với người ra chính sách là xây dựng các chương trình nghị sự mang tính liên ngành (Ngành dịch vụ tại Việt Nam được cho là thiếu tính tích hợp). Tiến trình đổi mới như vậy có liên hệ tới nhiều ngành và nhiều đối tượng hữu quan nên việc thực thi thực sự là một thách thức, với ví dụ như việc triển khai các hành lang vận tải và việc xây dựng Cơ chế một cửa quốc gia (single window) thuộc phạm vi tạo thuận lợi thương mại và thiếu một cơ chế phối hợp điều tiết liên ngành. Các hoạt động logistics chưa hình thành hệ sinh thái vững chắc và mức độ tích hợp các hoạt động logistics vấn là chỉ số tham chiếu đo lường tính hiệu quả của hệ thống logistics quốc gia.
Tài liệu tham khảo
– World Investment Report. UNCTAD 2020
– Logistics Performance Index 2018. World Bank Group
– www.hitachi-solutions.co.jp
– Creative disruption. Asia’s winners in the US-China trade war. EIU
– Trust and Diversity – A geoeconomic strategy for the Australia-US alliance. Dr Darren Lim. et al.
– Globalized supply chains and U.S. policy. Dick. Nanto. Congressional Research Service
– Why do firms invest abroad? An analysis of the motives underlying FDI. Chiara Franco.

  • Sự kiện
  • Đào tạo