[vccitranslate]

Khung Phân Tích Liên Kết Hợp Tác Logistics Vùng và Ứng Dụng Tại Việt Nam

1. Vai trò thiết yếu của logistics trong nền kinh tế quốc dân

Nằm trên bán đảo Đông Dương ở Đông Nam Á và giáp Biển Đông, với địa hình hình chữ S dài nhưng hẹp của Việt Nam thì công tác quản lý logistics của cơ quan quản lý nhà nước và doanh nghiệp là quan trọng và rất cần thiết. Theo Hiệp hội Doanh nghiệp Dịch vụ Logistics Việt Nam (VLA), ngành logistics đã tăng trưởng 14-16% hàng năm trong những năm gần đây, là một trong những ngành kinh tế tăng trưởng nhanh nhất cả nước và có tốc độ tăng trưởng kép hàng năm (CAGR) dự kiến ​​trong 5 năm tới là 15-20%[1].

Logistics đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân theo hai cách thức. Thứ nhất, logistics là một trong những khoản chi phí lớn của doanh nghiệp, có ảnh hưởng đến và bị ảnh hưởng bởi các hoạt động kinh tế khác. Giữa chi phí logistics và GDP bình quân đầu người (thước đo của phát triển kinh tế) có mối quan hệ nghịch tuyến. Điều này được phản ánh trong một nghiên cứu gần đây[2], sử dụng dữ liệu GDP của Ngân hàng Thế giới và nhiều nguồn khác về chi phí logistics, trong đó Việt Nam được xếp vào nhóm các quốc gia có chi phí logistics cao (tính theo phần trăm của GDP, khoảng 25%) nhưng với GDP bình quân đầu người thấp (dưới 5.000 USD). Thứ hai, logistics hỗ trợ nhiều giao dịch kinh tế; logistics là một yếu tố quan trọng trong việc làm cho các giao dịch hàng hóa và dịch vụ trở nên thuận lợi hơn. Trong mối liên hệ này, GDP bình quân đầu người và chỉ số hiệu quả hoạt động logistics – LPI cũng có mối quan hệ mật thiết[3], trong đó các quốc gia có điểm LPI cao cũng có mức GDP bình quân đầu người cao. LPI là một công cụ so sánh do Ngân hàng Thế giới tạo ra để giúp các quốc gia xác định những thách thức và cơ hội mà họ gặp phải trong hoạt động logistics thương mại và bao gồm sáu chỉ số đo lường về hải quan, cơ sở hạ tầng, vận chuyển quốc tế, năng lực logistics, theo dõi và truy vết, và tính kịp thời[4].

Hình 1 và Hình 2 cung cấp cái nhìn tổng quan về xếp hạng LPI và năng lực logistics của Việt Nam và một số nước ASEAN khác. Về chỉ số LPI, Việt Nam được xếp hạng 39 năm 2018, được coi là có cải thiện so với vị trí thứ 53 năm 2012, thứ 48 năm 2014 và thứ 64 năm 2016. Tuy nhiên, vị trí LPI của Việt Nam tụt 4 bậc vào năm 2023 và tụt xuống vị trí thứ 43[5]. Theo VLA, điều này là do sự sụt giảm về điểm số liên quan đến tính kịp thời, năng lực logistics, và theo dõi và truy vết[6].

Hình 1: Xếp hạng LPI của Việt Nam và một số nước ASEAN

Khung Phân Tích Liên Kết Hợp Tác Logistics Vùng & ứng dụng tại VN  Nguồn: Tác giả chuẩn bị từ dữ liệu của World Bank (2023b)

Hình 2: Xếp hạng năng lực Logistics của Việt Nam và một số nước ASEAN

Nguồn: Tác giả chuẩn bị từ dữ liệu của World Bank (2023b)

Rõ ràng là năng lực logistics, hay năng lực và chất lượng của dịch vụ logistics ở cả tầm vi mô (doanh nghiệp) và vĩ mô (vùng, quốc gia), có mối liên hệ chặt chẽ với LPI của một quốc gia. Có thể thấy, mặc dù Việt Nam nằm trong danh sách 5 nước đứng đầu trong khu vực ASEAN, thứ hạng LPI và năng lực logistics của Việt Nam chưa ổn định so với thứ hạng liên tục được cải thiện của các nước trong khu vực như Singapore và Philippines. Điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết cần cải thiện năng lực logistics của Việt Nam, và một trong những giải pháp quan trọng là nâng cao liên kết hợp tác logistics và chuỗi cung ứng ở cả tầm vi mô và vĩ mô.

2. Tầm quan trọng của liên kết hợp tác logistics và chuỗi cung ứng

Liên kết hợp tác trong logistics và chuỗi cung ứng đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động quản trị logistics và chuỗi cung ứng của doanh nghiệp, và thông qua đó đóng góp vào phát triển kinh tế vùng và quốc gia. Gia tăng liên kết hợp tác trong logistics và chuỗi cung ứng có thể tạo điều kiện phát triển sản phẩm mới nhanh hơn, chất lượng sản phẩm tốt hơn, giảm chi phí sản phẩm và chuỗi cung ứng, cải thiện dịch vụ khách hàng[7],[8] và nâng cao hiệu quả hoạt động bền vững của doanh nghiệp[9]. Hợp tác là không thể thiếu đối với một chuỗi cung ứng hiệu quả. Tầm quan trọng của hợp tác chuỗi cung ứng được nhấn mạnh trong môi trường kinh doanh toàn cầu hóa, có tính cạnh tranh cao hiện nay, nơi các đối thủ cạnh tranh không chỉ giới hạn ở các công ty riêng lẻ mà còn mở rộng ra toàn bộ chuỗi cung ứng.

Đã có nhiều nghiên cứu về các thành tố của liên kết hợp tác trong logistics và chuỗi cung ứng ở cấp độ vi mô (giữa các doanh nghiệp trong hệ sinh thái logistics), theo đó việc chia sẻ thông tin, hòa hợp mục tiêu, chia sẻ rủi ro/lợi ích, và đồng bộ hóa quyết định được xác định là những yếu tố then chốt[10]. Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có nghiên cứu nào cả về học thuật và thực tiễn tập trung xây dựng khung phân tích liên kết hợp tác logistics và chuỗi cung ứng ở cấp độ vĩ mô (giữa các vùng kinh tế trong cùng quốc gia), và dùng nó để đánh giá thực tiễn. Việc xây dựng một khung phân tích như thế sẽ giúp cho việc đánh giá liên kết hợp tác logistics vùng trở nên khách quan, thuận tiện, giúp chỉ rõ các điểm nghẽn cũng như các giải pháp tương thích.

3. Khung phân tích liên kết hợp tác logistics vùng đề xuất

Xuất phát từ nhận thức rằng việc gia tăng liên kết hợp tác logistics vùng cần được thực hiện từ cả cấp độ vi mô và vĩ mô, khung phân tích đề xuất cần bao gồm những thành tố ở cả hai cấp độ này, như mô tả trong hình sau.

Khung Phân Tích Liên Kết Logistics Vùng

Nguồn: Tác giả

Ở cấp độ vi mô, việc gia tăng liên kết hợp tác logistics vùng có thể được thực hiện thông qua các yếu tố sau đây, không chỉ giữa các doanh nghiệp trong hệ sinh thái logistics trong cùng một địa phương mà còn giữa các địa phương trong cùng một vùng:

  • Chia sẻ thông tin: đề cập đến mức độ mà một doanh nghiệp trong hệ sinh thái logistics chia sẻ các thông tin liên quan một cách chính xác, đầy đủ, và kịp thời với các đối tác trong chuỗi cung ứng của mình.
  • Hòa hợp mục tiêu: sự hòa hợp về mục tiêu giữa các doanh nghiệp trong chuỗi cung ứng là mức độ mà họ nhận thấy các mục tiêu của chính họ được thỏa mãn bằng cách hoàn thành các mục tiêu của chuỗi cung ứng.
  • Chia sẻ rủi ro/lợi ích: đề cập đến quá trình chia sẻ chi phí, rủi ro và lợi ích giữa các doanh nghiệp trong chuỗi cung ứng.
  • Đồng bộ hóa quyết định: đề cập đến quá trình các doanh nghiệp trong chuỗi cung ứng đồng bộ hóa các quyết định trong việc lập kế hoạch và vận hành chuỗi cung ứng nhằm tối ưu hóa lợi ích của chuỗi cung ứng chứ không riêng gì lợi ích của doanh nghiệp của mình.

Có thể thấy rằng các yếu tố nêu trên ở cấp độ vi mô có mối quan hệ tương hỗ với nhau, và cùng đóng góp làm gia tăng liên kết hợp tác logistics vùng. Ví dụ, việc chia sẻ các thông tin liên quan một cách chính xác, đầy đủ, và kịp thời sẽ giúp thúc đẩy hòa hợp mục tiêu giữa các đơn vị trong chuỗi cung ứng, và việc có mục tiêu hòa hợp cùng nhau sẽ làm cho việc chia sẻ rủi ro và lợi ích trở nên dễ dàng hơn. Tất cả những yếu tố này giúp giảm thiểu những rào cản cho việc hợp tác.

Ở cấp độ vĩ mô, có bốn yếu tố quan trọng đóng góp làm gia tăng liên kết hợp tác logistics vùng: tối ưu hóa cơ sở hạ tầng, đồng bộ hóa thể chế, nhất thể hóa quy trình/hệ thống, và chuẩn hóa phát triển nguồn nhân lực giữa các địa phương trong cùng một vùng.

  • Tối ưu hóa cơ sở hạ tầng: đề cập đến việc cơ sở hạ tầng logistics như cảng biển, sân bay, cảng cạn, điểm thông quan nội địa… ở các địa phương khác nhau trong vùng được quy hoạch và sử dụng chung một cách hợp lý, có cân nhắc đến lưu lượng luồng hàng ở các địa phương trong vùng.
  • Đồng bộ hóa thể chế: đề cập đến việc các cơ quan chức năng hữu quan ở các địa phương trong vùng như hải quan, sở công thương, sở giao thông vận tải… đồng bộ hóa các văn bản quy phạm pháp luật, cũng như quy trình, thủ tục hành chính liên quan đến hoạt động logistics thông qua cơ chế phối hợp được điều phối bởi một cơ quan chung của vùng.
  • Nhất thể hóa quy trình/hệ thống: đề cập đến việc các doanh nghiệp logistics ở các địa phương khác nhau trong vùng chú trọng tạo ra sự nhất quán trong việc thực hiện các hệ thống, quy trình và thủ tục hoạt động tại các cơ sở hạ tầng logistics trong vùng.
  • Chuẩn hóa phát triển nguồn nhân lực: đề cập đến việc các cơ sở đào tạo ở các địa phương khác nhau trong vùng chú trọng tạo ra nguồn nhân lực logistics có năng lực làm việc (kiến thức, kỹ năng, khả năng/thái độ) ở tất cả các cơ sở hạ tầng, doanh nghiệp logistics và cơ quan hữu quan trong vùng (cũng như ngoài vùng) thông qua chuẩn hóa chương trình đào tạo, chuẩn đầu ra, thực tập…

Tương tự như ở cấp độ vi mô, các yếu tố ở cấp độ vĩ mô cũng có mối quan hệ tương hỗ với nhau, và cùng đóng góp làm gia tăng liên kết hợp tác logistics vùng. Ví dụ, việc đồng bộ hóa thể chế sẽ giúp các cơ quan chức năng hữu quan ở các địa phương trong vùng hiện thực hóa việc tối ưu hóa cơ sở hạ tầng logistics trong vùng, cũng như nhất thể hóa quy trình/hệ thống. Tất cả các yếu tố này khi thực hiện sẽ tạo điều kiện thuận lợi để các đơn vị trong hệ sinh thái logistics vùng hoạt động như một khối thống nhất, và thúc đẩy liên kết hợp tác logistics vùng.

Giữa các yếu tố ở cấp độ vi mô và vĩ mô cũng có mối quan hệ cộng sinh, hỗ trợ lẫn nhau vận hành trơn tru như các bánh răng trong một cỗ máy giúp gia tăng liên kết hợp tác logistics vùng. Ví dụ, khi các doanh nghiệp/đơn vị trong hệ sinh thái logistics nhất trí đồng bộ hóa quyết định và cùng chia sẻ lợi ích/rủi ro, việc nhất thể hóa quy trình/hệ thống sẽ trở nên dễ dàng. Ngược lại, quy trình/hệ thống đã được nhất thể hóa cũng tạo nền tảng để việc đồng bộ hóa quyết định và cùng chia sẻ lợi ích/rủi ro trở nên thuận tiện hơn.

4. Ứng dụng khung phân tích liên kết hợp tác logistics vùng tại Việt Nam

Nghị quyết của Bộ Chính trị số 24-NQ/TW về phát triển kinh tế – xã hội vùng Đông Nam Bộ Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 ngày 7 tháng 10 năm 2022 nêu bật tầm quan trọng về kinh tế, xã hội và chính trị của vùng Đông Nam Bộ Việt Nam (bao gồm Thành phố Hồ Chí Minh và 5 tỉnh Tây Ninh, Bình Dương, Bình Phước, Đồng Nai và Bà Rịa – Vũng Tàu) chiếm 32% GDP cả nước và đóng góp 44,7% vào ngân sách nhà nước năm 2020. Vùng cũng đang dẫn đầu cả nước xét về Tổng sản phẩm quốc nội khu vực (RGDP) vào năm 2020.

Tuy nhiên, cũng có một số rào cản đang cản trở sự phát triển kinh tế – xã hội của vùng. Cụ thể, sự phát triển của Vùng cho đến nay chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế; tăng trưởng kinh tế có xu hướng chậm lại và thấp hơn mức chung của cả nước; đóng góp vào tổng thu ngân sách nhà nước giảm, tốc độ tăng năng suất lao động thấp. Điều quan trọng là mạng lưới hạ tầng vùng, liên vùng, đặc biệt là hạ tầng giao thông kết nối vùng và liên vùng còn thiếu, yếu, ít đồng bộ, ảnh hưởng đến sự phát triển và các tác động lan tỏa khác của vùng. Trong khi đó, chất lượng nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, chưa đáp ứng yêu cầu phát triển, liên kết nội vùng, liên vùng chưa hiệu quả.

Trong khi Nghị quyết nhấn mạnh một số nhiệm vụ quan trọng nhằm tăng cường phát triển kinh tế – xã hội của Vùng như tăng cường kết nối các khu công nghiệp, khu chế xuất để hình thành các cụm công nghiệp và tập trung thu hút các dự án công nghiệp quy mô lớn, công nghệ cao, có khả năng tham gia toàn diện vào mạng lưới sản xuất và chuỗi giá trị toàn cầu, liên kết hợp tác logistics kém hiệu quả sẽ cản trở việc thực hiện các nhiệm vụ này. Với các liên kết logistics kém hiệu quả, các liên kết vùng khác sẽ bị suy yếu, từ đó có thể làm suy yếu sức mạnh phát triển của Vùng và cả nước nói chung.

Chính vì vậy, việc ứng dụng khung phân tích liên kết hợp tác logistics vùng giới thiệu trong bài viết này là bước đi đầu tiên nhằm phân tích một cách thấu đáo các điểm nghẽn hiện hữu trong liên kết hợp tác logistics vùng Đông Nam Bộ, để từ đó đưa ra các giải pháp về mặt chính sách và chiến lược phù hợp.

GS.TS. Thái Văn Vinh

Đại học RMIT, Úc

———

[1] Kokalari, M. (2023), “Vietnam’s booming logistics sector still has room for growth”, available at: https://theinvestor.vn/vietnams-booming-logistics-sector-still-has-room-for-growth-d5463.html

[2] Rodrigue, J. P. (2020), The Geography of Transport Systems, 5th edition, Routledge, New York.

[3] Hofman, B. (2017), “Performance and Prospects of Global Logistics: Keynote speech at the CaiNiao Global Smart Logistics Conference”, available at: https://www.worldbank.org/en/news/speech/2017/05/22/performance-and-prospects-of-global-logistics#:~:text=The%20slide%20shows%20a%20strong,a%20direct%20impact%20on%20poverty

[4] The World Bank (2023), “Logistics Performance Index – LPI”, available at: https://lpi.worldbank.org/about

[5] The World Bank (2023), “Logistics Performance Index – Global Ranking 2023”, available at: https://lpi.worldbank.org/international/global

[6] Vietnamnet (2023), “Vietnam’s decreased LPI may cause difficulties for exports”, available at: https://vietnamnet.vn/en/vietnam-s-decreased-lpi-may-cause-difficulties-for-exports-2160244.html

[7] Wiengarten, F., Pagell, M., Ahmed, M.U. and Gimenez, C. (2014), “Do a country’s logistical capabilities moderate the external integration performance relationship?”, Journal of Operations Management, Vol. 32 No. 1-2, pp. 51-63.

[8] Alfalla-Luque, R., Marin-Garcia, J.A. and Medina-Lopez, C. (2015), “An analysis of the direct and mediated effects of employee commitment and supply chain integration on organisational performance”, International Journal of Production Economics, Vol. 162 No., pp. 242-257.

[9] Uddin, M.B. and Akhter, B. (2022), “Investigating the relationship between top management commitment, supply chain collaboration, and sustainable firm performance in the agro-processing supply chain”, Operations Management Research, Vol. 15 No. 3-4, pp. 1399-1417.

[10] Cao, M. & Zhang, Q. (2011), “Supply chain collaboration: Impact on collaborative advantage and firm performance”, Journal of Operations Management, Vol. 29, no. 3, pp. 163-180.

  • Sự kiện
  • Đào tạo