Kinh tế thế giới 2011: Ảm đạm và rủi ro đầy rẫy?

20 / 01 / 2011

Kinh tế toàn cầu cuối năm 2010 đã phân hóa rõ rệt hơn so với hồi đầu năm. Các quốc gia mới nổi như Trung Quốc, Ấn Độ và các nước Đông Nam Á đều tăng trưởng mạnh mẽ, trong khi các nước Âu Mỹ thì ngược lại (các nước này mang đặc trưng kinh tế rệu rã kiểu Nhật) với tỷ lệ thất nghiệp cao không có cách nào “giải tỏa”.
                                                              style=

Khó khăn mà các nước phát triển gặp phải hiện nay không phải là sự phục hồi khan hiếm việc làm, mà là sự phục hồi “thiếu máu”, bi quan hơn thì có thể nói rằng: các nước này đang phải đối mặt với nguy cơ suy thoái lần 2.

Dưới đây chúng tôi xin giới thiệu tới bạn đọc bài viết của Joseph E. Stiglitz, giáo sư kinh tế thuộc Đại học Colombia, từng đoạt giải Nobel về kinh tế học.

Hai hướng phát triển nêu trên ẩn chứa những rủi ro đặc thù: Tuy chưa thể khẳng định kinh tế châu Á đã đủ sức “dẫn động” tăng trưởng kinh tế toàn cầu, nhưng các nước trong khu vực này đã thành công vượt bậc về phương diện đẩy giá hàng hóa lên cao.

Cùng thời điểm đó, Mỹ thực hiện chương trình nới lỏng định lượng nhằm kích thích kinh tế trong nước, nhưng không thành công. Bởi vì quy luật của thị trường tài chính là, đồng vốn sẽ chảy về khu vực phát triển phồn thịnh, mà khu vực đó hiện đang là châu Á chứ không phải nước Mỹ. Và nghịch lý đã xảy ra, đồng vốn không chảy về nơi đang rất cần đến nó mà dồn về khu vực không mấy cần nó. Điều này khiến cho giá cả tài sản và hàng hóa tiếp tục được đội lên cao, nhất là tại khu vực các nền kinh tế mới nổi.

Chính sách nới lỏng định lượng có thể chưa gây ra lạm phát bởi năng lực sản xuất dư thừa ở các nước Âu Mỹ quá lớn, nhưng nó sẽ làm gia tăng mối lo ngại về nguy cơ lạm phát trong tương lai, và do đó sẽ đẩy lãi suất dài hạn lên mức cao hơn. Điều này hoàn toàn trái ngược với mong muốn của Cục dự trữ liên bang Mỹ.

Tuy nhiên, đây vẫn chưa phải là nguy cơ duy nhất hoặc lớn nhất mà kinh tế thế giới phải đối mặt. Mối đe dọa nghiêm trọng nhất đến từ làn sóng thắt chặt chi tiêu đang lan tỏa khắp toàn cầu. Nguyên nhân của hiện tượng này là do chính phủ các nước (tiêu biểu là châu Âu) đang phải đối mặt với con số thâm hụt ngân sách khổng lồ sau khủng hoảng. Và những lo ngại về khả năng thanh toán nợ của một số quốc gia đã khiến thị trường tài chính trở nên bất ổn.

Các biện pháp củng cố hệ thống tài chính quá ư non kém dẫn đến hậu quả đã được dự đoán từ trước: tăng trưởng chậm, ngân sách từ thu thuế giảm, hiệu quả của các biện pháp giảm thâm hụt ngân sách không được như ý. Đồng thời, với bố cục thế giới nhất thể hóa như hiện nay, kinh tế châu Âu phát triển chậm lại sẽ đẩy nhanh tốc độ trượt dốc của kinh tế Mỹ và ngược lại.

Lãi suất vay vốn giảm xuống mức kỉ lục trong lịch sử và sau mười 10 năm “mất tích”, những “cam kết lợi nhuận” nhằm thu hút vốn dành cho các dự án đầu tư của chính phủ lại được tái diễn, chính phủ Mỹ cuối cùng đã biết mình phải làm gì. Một kế hoạch đầu tư lớn của nhà nước có thể giải quyết vấn đề việc làm trong thời gian ngắn, thúc đẩy kinh tế tăng trưởng dài hạn và nhờ đó giúp giảm nợ công. Nhưng thị trường tài chính không chỉ để lộ “tầm nhìn hạn hẹp” của mình vài năm trước khi khủng hoảng bùng nổ, mà nay còn giẫm lại vết xe đổ, buộc các chính phủ phải cắt giảm chi tiêu. Điều này cũng có nghĩa, những dự án đầu tư chính phủ sẽ giảm mạnh.

Bên cạnh đó, những căng thẳng về chính trị khiến chính phủ Mỹ khó có thể cải thiện tình hình kinh tế đang ngày càng xấu đi: làn sóng tịch thu tài khoản thế chấp ngày càng dữ dội (chưa kể nảy sinh những rắc rối về mặt pháp lý), doanh nghiệp vừa và nhỏ vẫn không nhận được vốn vay, trong khi đó, các ngân hàng quy mô vừa và nhỏ có thể cấp vốn các doanh nghiệp này vẫn đang phải tiếp tục vùng vẫy để thoát khỏi nguy cơ phá sản.

Cùng thời điểm này, tình hình châu Âu vẫn chưa có dấu hiệu khả quan. Rốt cuộc, châu Âu đã phải ra tay cứu nguy cho hai quốc gia: Hy Lạp và Iceland, những nước đã “trượt” về phía khủng hoảng dưới sự lãnh đạo của chính phủ cánh hữu. Điều này cho thấy, lý thuyết về thị trường tự do không chỉ thất bại thảm hại ở Mỹ mà còn ở cả châu Âu.

Học theo gương Mỹ, Hy Lạp đã dựng lên một chính phủ mới để “thu dọn bãi chiến trường”. Còn Iceland, chính phủ nước này khuyến khích vay vốn tràn lan và tạo ra bong bóng bất động sản, đã “lộ nguyên hình” là một chính phủ không hiểu gì về quản lý kinh tế hậu khủng hoảng.

Gạt qua những yếu tố chính trị, bong bóng bất động sản khiến chính phủ Iceland phải gánh một khoản nợ công khổng lồ và một ngành bất động sản với năng lực sản xuất dư thừa quá mức, mà những khó khăn này chẳng thể giải quyết trong một sớm một chiều.

Dự báo kinh tế thế giới năm 2011 với tôi chẳng phải là điều thú vị gì: vì đáp án sau cùng vẫn là: ảm đạm! Tiềm lực khan hiếm trong khi rủi ro thì đầy rẫy. Điều quan trọng hơn là, không rõ phải mất bao lâu nữa các nước Âu Mỹ mới có thể phục hồi? Và các quốc gia châu Á tăng trưởng chủ yếu dựa vào xuất khẩu sẽ ra sao khi thị trường xuất khẩu truyền thống của các nước này đang lâm vào khủng hoảng trầm trọng?

Phương án tốt nhất, theo tôi, là các quốc gia châu Á cần chuyển hướng trọng điểm sang phát triển thị trường tiềm năng trong nước và duy trì tốc độ tăng trưởng dựa vào thị trường mới khai thác này. Điều này đồng nghĩa với việc họ phải tiến hành những cải cách lớn trong cơ cấu kinh tế của nước mình.

Tôi không mấy lạc quan với viễn cảnh tương lai của các quốc gia Âu Mỹ. Thực chất, vấn đề căn bản của họ là tổng cầu lũy kế không đủ. Và điều hài hước là, một mặt thì năng lực sản xuất trở nên dư thừa quá mức, trong khi một khối lượng lớn nhu cầu đã không được đáp ứng. Nếu có thể áp dụng những chính sách hợp lý để cân bằng hai điều này sẽ hỗ trợ rất lớn cho quá trình phục hồi tăng trưởng.

Dù là châu Âu hay Mỹ, “dung túng” cho lý thuyết thị trường tự do (hay còn gọi là thị trường vạn năng, nơi mà nhà nước không thể can thiệp) với sự gia tăng chóng mặt của bong bóng tài sản đồng nghĩa với việc các nhà hoạch định chính sách tự buộc xích lên người mình, khiến giờ đây họ chẳng thể đưa ra những sách lược hữu hiệu để đối phó với khủng hoảng. Có người cho rằng sự xuất hiện của khủng hoảng sẽ khiến lý thuyết thị trường tự do tự động “rơi vỡ”, nhưng trên thực tế, nó đã được áp dụng trở lại, và tiếp tục đẩy chính phủ và kinh tế các nước xuống “đầm lầy” của “thắt chặt ngân sách”.

Theo tamnhin.net

Print Friendly