Tình hình kinh tế Việt Nam tháng 1 năm 2015

27/02/2015 03:10

1. Về tình hình kinh tế vĩ mô

Về giá cả thị trường: Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 01/2015 giảm 0,2% so với tháng 12/2014, là tháng thứ 3 liên tiếp chỉ số giá tiêu dùng giảm so với tháng trước đó[1] và là lần đầu tiên sau nhiều năm CPI tháng 01 có mức giảm (âm). So với cùng kỳ năm trước, CPI tháng 01/2015 tăng 0,94%.
Nguyên nhân chủ yếu của việc giảm giá này là do giá xăng, dầu, giá gas trong nước tiếp tục điều chỉnh giảm mạnh theo giá thế giới, tác động làm giảm chỉ số giá các nhóm hàng Giao thông (giảm 3,96% so với tháng 12/2014), Nhà ở và vật liệu xây dựng (giảm 1,09% so với tháng 12/2014); trong khi đó, các nhóm hàng khác tăng thấp, dao động từ 0,08-0,53% (Hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,28%); riêng nhóm Bưu chính Viễn thông giảm 0,07%.

Về thu chi ngân sách nhà nước: Tính chung 15 ngày đầu tháng, thu NSNN ước đạt 35,3 nghìn tỷ, bằng 3,9% dự toán năm, tăng 29,5% so với cùng kỳ; chi NSNN ước đạt 42,2 nghìn tỷ đồng, bằng 3,7% dự toán năm.

Về sản xuất công nghiệp: Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tháng 01 giảm 2,8% so với tháng 12/2014 nhưng tăng 17,5% so với cùng kỳ, trong đó: sản xuất, phân phối điện tăng 20,9%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 19,4%; khai khoáng tăng 10,7%; cung cấp nước, xử lý rác thải, nước thải tăng 9,5%.

Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản: Tính đến ngày 15/01, cả nước đã gieo cấy 1.892,6 nghìn ha lúa Đông xuân, bằng 98,2% cùng kỳ năm trước. Chăn nuôi gia súc, gia cầm phát triển tương đối thuận lợi, chuẩn bị nguồn cung đáp ứng nhu cầu dịp Tết Nguyên đán sắp đến.

Về khu vực dịch vụ: Tổng mức hàng hóa bán lẻ và doanh thu dịch vụ tiêu dùngtháng 01 ước tăng 13% so với cùng kỳ năm trước, loại trừ yếu tố giá còn tăng 11,95%, cao hơn nhiều so với cùng kỳ năm 2014 (tăng 5,8%) và 2013 (tăng 1%); khách quốc tế đến Việt Nam trong tháng 01 ước tăng 6,6% so với tháng 12/2014.

Về xuất, nhập khẩu: Trong tháng 01, kim ngạch xuất khẩu ước đạt 12,9 tỷ USD, tăng gần 0,2% so với tháng 12/2014 và tăng 9,7% so với cùng kỳ năm 2014; kim ngạch nhập khẩu ước đạt 13,4 tỷ USD, giảm 4,5% so với tháng 12/2014, nhưng tăng 35,5% so với cùng kỳ năm 2014; nhập siêu ước đạt 500 triệu USD, bằng 3,9% kim ngạch xuất khẩu.

Về đầu tư phát triển: Vốn đầu tư từ NSNN giải ngân 15 ngày đầu tháng ước đạt 6,54 nghìn tỷ đồng, bằng 3,4% kế hoạch năm. Vốn ODA và vay ưu đãi giải ngân tháng 01 ước đạt 120 triệu USD, tăng 10% so với cùng kỳ năm trước. Vốn đầu t­­ư trực tiếp nư­­ớc ngoài thực hiệnước đạt 505 triệu USD, tăng 8,6% so với cùng kỳ năm trước; tổng vốn đăng ký ước đạt trên 663,4 triệu USD, tăng 67,1% so với cùng kỳ năm trước.

Trong tháng 01, đã thu hút FDI vào 11 ngành lĩnh vực, trong đó, đứng đầu là lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo với số vốn đăng ký cấp mới và tăng thêm chiếm 91,3% tổng vốn đăng ký của cả nước; tiếp đến là lĩnh vực bán buôn bán lẻ sửa chữa, chiếm 4,6%.

Nguồn: Vụ Tổng hợp kinh tế quốc dân - Bộ Kế hoạch và Đầu tư

2. Về tình hình hoạt động doanh nghiệp

Tình hình đăng ký thành lập mới

Trong tháng 01/2015, số doanh nghiệp thành lập mới của cả nước là 6.867 doanh nghiệp với số vốn đăng ký 31.701 tỷ đồng, tương đương cùng kỳ 2014 về số doanh nghiệp (6.866 doanh nghiệp) và giảm 27,5% về số vốn đăng ký so với cùng kỳ. Tỷ trọng vốn đăng ký bình quân trên một doanh nghiệp trong tháng 01 đạt 4,6 tỷ đồng, giảm 20,4% so với cùng kỳ

Số lao động đăng ký của các doanh nghiệp thành lập mới trong tháng 01 là 103.511 lao động, giảm 7,4% so với tháng 01 năm 2014.
Tình hình doanh nghiệp đăng ký thành lập mới trong tháng 01 năm 2015 chia theo vùng lãnh thổ cho thấy Tây Nguyên là vùng có mức suy giảm (62,9%) lớn nhất trong cả nước về số lượng doanh nghiệp mới gia nhập thị trường; tiếp theo là Đồng bằng sông Cửu Long giảm 8,1%; các vùng còn lại đều có số doanh nghiệp thành lập mới tăng so với cùng kỳ, trong đó, Đồng bằng sông Hồng tăng 15,6%; Trung du và miền núi phía Bắc tăng 10,5%; Bắc Trung Bộ và duyên hải miền trung tăng 4,8%; Đông Nam Bộ tăng 3,4%.

Trong tháng 01 năm 2015, một số ngành, lĩnh vực hoạt động có sự gia tăng về doanh nghiệp thành lập mới so với cùng kỳ như: Nghệ thuật, vui chơi và giải trí tăng 147,6%; Giáo dục và đào tạo tăng 44,9%

Kinh doanh bất động sản tăng 41,9%; Dịch vụ việc làm, du lịch, cho thuê máy móc thiết bị, đồ dùng và các dịch vụ hỗ trợ khác tăng 30,8%. Bên cạnh đó, một vài ngành nghề có sự suy giảm so với cùng kỳ năm 2014 gồm: Y tế và hoạt động trợ giúp xãhội giảm 42,9%; Sảnxuất, phân phối điện, nước, ga giảm 36,9%; Khai khoáng giảm 19%; Bán buôn; bánlẻ; sửachữa ô tô, xe máy giảm 14,6%.

Tình hình doanh nghiệp giải thể, ngừng hoạt động và quay trở lại hoạt động

Số doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, chấm dứt hoạt động kinh doanh trong tháng 01 năm 2015 của cả nước là 993 doanh nghiệp, giảm 3,4% so với cùng kỳ năm trước. Số lượng doanh nghiệp giải thể phần lớn là những doanh nghiệp có quy mô vốn đăng ký dưới 10 tỷ đồng. Điều này phần nào cho thấy rằng nhờ có sức đề kháng và hoạch định chiến lược kinh doanh tốt hơn, những doanh nghiệp có quy mô vốn lớn thường có độ ổn định và sức chống chọi với khó khăn cao hơn so với các doanh nghiệp nhỏ.

Số doanh nghiệp gặp khó khăn buộc phải tạm ngừng hoạt động của cả nước là 9.772 doanh nghiệp, tăng 22,9% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm: 3.367 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng hoạt động có thời hạn, 6.405 doanh nghiệp ngừng hoạt động chờ đóng mã số doanh nghiệp hoặc không đăng ký. Điều này cho thấy rằng, cộng đồng doanh nghiệp vẫn còn trong giai đoạn khó khăn.

Số doanh nghiệp quay trở lại hoạt động là 2.872 doanh nghiệp, tăng 20,9% so với cùng kỳ năm trước.

Nguồn: Cục Quản lý đăng ký kinh doanh - Bộ Kế hoạch và Đầu tư